🇯🇵 GIA SƯ TIẾNG NHẬT

Tokyo
Tokyo

🇯🇵 Trung tâm gia sư Tâm Tài Đức chuyên cung cấp dịch vụ gia sư Tiếng Nhật cho học viên cần tìm gia sư dạy Tiếng Nhật tại nhà

🇯🇵 Gia sư tiếng Nhật giao tiếp, cách phát âm, các kỹ năng nghe, nói, đọc viết, luyện thi chứng chỉ N5, N4, N3, N2, N1, tiếng Nhật cho người đi làm, kinh doanh, xuất khẩu lao động, du học, định cư, du lịch Nhật Bản.

🍀 Ông trời không sinh ra người đứng trên người,

🍀 Ông trời không sinh ra người đứng dưới người,

🍀 ​Tất cả do sự học mà ra.

Fukuzawa Yukichi

Mục Lục

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT LÀ GÌ ?

🇯🇵 Gia sư tiếng Nhật là là quá trình học và dạy tiếng Nhật ngay tại nhà học viên chứ không cần phải đến trường, lớp hay trung tâm ngoại ngữ để học.

bang chu cai tieng nhat

🇯🇵 Giáo viên hay gia sư tiếng Nhật sẽ đến tận nhà học viên để dạy theo nhu cầu học tập cá nhân hoặc dạy nhóm cho nhân viên các doanh nghiệp.

🇯🇵 Học viên có thể tự tìm cho mình gia sư dạy học Tiếng Nhật thông qua các mối quan hệ hoặc tuyển dụng.

🇯🇵 Giáo viên có thể tự mình tìm kiếm khách hàng có nhu cầu học để đi dạy hoặc có thể liên hệ trung tâm gia sư để nhờ tìm học viên để đi dạy.

gia sư tiếng nhật

🍇 “Ta có thể đứng yên giữa dòng nước chảy xiết, nhưng không thể đứng yên giữa dòng đời xuôi ngược”.

Ngạn ngữ Nhật Bản

✅ CẦN TÌM GIA SƯ TIẾNG NHẬT

🇯🇵 Bạn đang quan tâm và có nhu cầu thuê gia sư dạy tiếng Nhật :

1. Bạn là nhân viên của một công ty thường xuyên làm việc với đối tác người Nhật, bạn luôn lo lắng về khả năng giao tiếp bằng tiếng nhật của mình.

2. Bạn có một chuyến du học hay du lịch nước Nhật sắp tới đang rất cần rèn luyện khả năng giao tiếp lưu loát tiếng Nhật trong một thời gian ngắn.

3. Bạn đang chuẩn bị đi công tác, tu nghiệp sinh hay xuất khẩu lao động muốn dễ dàng cho công việc thông qua việc học văn hóa và ngôn ngữ Nhật.

son mai nhat

4. Bạn chuẩn bị định cư, đoàn tụ gia đình

5. Bạn kết hôn nhưng bạn đang vướn phải rào cản ngôn ngữ

6. Bạn cần ôn luyện thi năng lực Tiếng Nhật N5,N4,N3,N2,N1 Tiếng Nhật

7. Gia sư tiếng Nhật cho trẻ em, các em học sinh đang học ngoại ngữ hai là Tiếng Nhật có nhu cầu trao dồi thêm kiến thức tiếng Nhật định hướng thi đại học hoặc đi du học

8. Gia sư dạy tiếng việt cho người người bản ngữ

9. Gia sư dạy kèm tiếng Nhật tại nhà sơ cấp, lớp học đầu tiên 5, 10, 15 hoặc 20 giờ…

10. Dạy kèm tiếng nhật tại nhà các chuyên ngành: Dịch thuật, biên dịch, thương mại, kỹ thuật cho các kỹ sư ngành công nghiệp…

11.Gia sư trực tuyến với các lớp học trực tuyến qua Skype.

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT CHO TRẺ EM

🌻 Xác định Tiếng Nhật Cho Trẻ Em là chương trình Giáo dục ngoại ngữ kết hợp Giáo dục thói quen và tính cách cho trẻ. Vì vậy mà trung tâm rất kỹ tính trong khâu xây dựng chương trình học, tuyển chọn gia sư cho phù hợp với chương trình. Ngoài việc có chứng chỉ chuyên môn tiếng Nhật, kỹ năng sư phạm thì không thể thiếu đó là kỹ năng tương tác và làm việc với trẻ.

🍭 NỘI DUNG KHÓA HỌC

🍬 Không hề cứng nhắc và học thuật mà thay vào đó: 30% thời lượng mỗi buổi học là các hoạt động khám phá văn hóa Nhật Bản giúp con rèn luyện tính tự lập, sự kiên trì và tác phong học tập nghiêm túc.

🍬 Với 6 cấp độ học từ dễ đến cơ bản, sinh động nhờ vào các hoạt động mô phỏng tình huống hàng ngày vì vậy hoàn toàn phù hợp với các bạn nhỏ cho dù chưa hoặc đã biết tiếng Nhật.

🍬 Áp dụng 02 phương pháp học hàng đầu thế giới: phương pháp Peer learning: trò chơi, mô phỏng, “nhai lại” kết hợp với hệ thống ôn và học bài ở nhà Online Blended learning giúp tăng thời gian tiếp xúc với tiếng Nhật của trẻ giúp nhớ bài kỹ hơn và thẩm thấu nhanh hơn.

🥛 GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP

🍵 Phương châm: “Gia sư tạo môi trường thân thiện nhất để giúp con rèn luyện tính tự lập”

☕ Chủ động đặt mục tiêu học tập mỗi buổi học (nhớ được bao nhiêu chữ…) giúp tâm thế luôn trong trạng thái chủ động.

☕ Tự do tìm hiểu, khám phá và làm những điều mà trẻ muốn trong giờ hoạt động văn hóa.

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT CHO NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU

Việc chinh phục một ngôn ngữ mới chưa bao giờ là dễ dàng cả. Việc này càng thêm khó khăn với những người học tiếng Nhật, bởi đây là một ngôn ngữ khó với nhiều bảng chữ cái, và ngữ pháp phức tạp. Thế nhưng chỉ cần quyết tâm thì gia sư dạy Tiếng Nhật chắc chắn sẽ giúp bạn chinh phục được tiếng Nhật.

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT CHO MỌI NGƯỜI

Gia sư Tiếng Nhật cho nhiều đối tượng: từ học sinh, sinh viên, và cả những ai muốn nắm chắc kiến thức cơ bản về tiếng Nhật để học tập và làm việc trong môi trường sử dụng tiếng Nhật.

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT CHO NHÂN VIÊN BÁN HÀNG

🌄 Gia sư Tiếng Nhật dành cho Nhân viên Bán hàng cung cấp cho nhân viên bán hàng là người Việt nam có được cái nhìn tổng thể về cung cách bán hàng cho người Nhật, với nhiều tình huống sinh động, phong phú từ các mẫu câu văn bản trong tiếng Nhật, cách giao tiếp với khách hàng, giới thiệu sản phẩm…

🌄 Bao gồm mọi tình huống xảy ra tại nơi bán hàng mà các bạn nhân viên thường gặp như: Biện pháp khi khách phân vân, nói để được khách hàng mua, nói chuyện trong nghiệp vụ, thực hành một số tình huống thường xảy ra ở quầy bán hàng.

🌄 Gia sư Tiếng Nhật không chỉ hướng dẫn người học cách sử dụng tiếng Nhật mà còn hướng dẫn cả cách để xử lý tình huống đó phù hợp với văn hóa và tính cách người Nhật. Hướng dẫn người học cách để giới thiệu hàng hóa, hỏi ý thích và dự toán của khách hàng, đề nghị khách hàng mặc thử hay sử dụng thử và khi không có hàng thì nên nói gì…

🌄 Tiếng Nhật dành cho Nhân viên Bán hàng còn cung cấp thêm nhiều thông tin về du lịch, mua sắm, xe cộ, khách sạn, nhà hàng… nhằm giúp người học có thể ứng dụng nhanh trong việc giao tiếp mua bán với người Nhật.

🌄 Giúp các bạn nhân viên bán hàng tự tin hơn khi đối thoại với khách hàng là người Nhật.

gia su tieng nhat tai nha tphcm

Xem thêm dịch vụ:

Gia sư tiếng Pháp

✅ GIA SƯ DẠY TIẾNG NHẬT

🇯🇵 Nếu bạn gặp khó khăn trong việc học Tiếng Nhật, các chuyên gia Tiếng Nhật sẽ cùng các bạn vượt qua những trở ngại về ngôn ngữ Nhật.

🇯🇵 Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác, học tập và cuộc sống của các bạn.

🇯🇵 Mọi đối tượng học viên có nhu cầu học tiếng Nhật có những vốn kiến thức, trình độ hiểu biết tiếng Nhật khác nhau, đồng thời tâm sinh lý không giống nhau tác động đến việc tiếp thu bài của mỗi người.

🇯🇵 Chính vì lẽ đó, trung tâm gia sư Tâm Tài Đức cung cấp dịch vụ Gia sư Tiếng Nhật đa dạng dành cho trẻ em, gia sư dạy kèm tiếng Nhật dành cho người lớn công tác hoặc làm việc với đối tác Nhật, gia sư cho các bạn yêu thích ngôn ngữ, văn hóa Nhật…

🇯🇵 Tùy thuộc vào từng đối tượng mà giáo viên sẽ thiết kế khung chương trình học khác nhau, phù hợp cho từng đối tượng khách hàng cụ thể.

tu vung tieng nhat dong vat

🇯🇵 Nội dung kiến thức là chuẩn chung đồng thời tùy thuộc vào đặt điểm công việc mà hệ thống từ vựng, ngữ pháp, tình huống được bổ sung chuyên sâu.

🇯🇵 Ví dụ học viên đi hợp tác lao động hoặc đi công tác sau phần dạy chung về ngôn ngữ thông dụng giáo viên sẽ tận tình hướng dẫn các bạn cách làm hợp đồng, viết báo cáo, đề án và các kỹ năng nói chuyện trong một số tình hướng hội họp, tiệc tùng…

🇯🇵 Chương trình dạy giúp các học viên tiếp cận thông thạo ngôn ngữ Nhật từ sơ cấp đến trung cấp rồi nâng cao, ôn luyện lấy văn bằng hay trình độ tương đương N5, N4, N3, N2, N1…

tu vung nghe nghiep

🇯🇵 Chúng tôi chú trọng giảng dạy theo phương pháp trực tiếp, thực hành là chính.

🇯🇵 Học tiếng nhật 1 kèm 1 với gia sư giảng bài tại nhà, các bạn sẽ cảm giác, thấy được một môi trường chuyên nghiệp, các bạn được trò chuyện chia sẽ kinh nghiệm học tốt, được tư vấn giáo trình, sách giáo khoa, giáo trình Minna no Nihongo, phần mềm dành riêng cho môn học mới nhất như: Phần mềm gõ tiếng Nhật, từ điển, font chữ tiếng Nhật…

🇯🇵 Học với gia sư tiếng Nhật tại nhà, các học viên sẽ ngày càng chủ động tích cực hơn, các bạn sẽ cảm thấy hứng thú và say mê trong việc khám phá cái hay của văn hóa thông qua việc học ngôn ngữ.

truyen tranh nhat ban

✅ ĐỘI NGŨ GIA SƯ TIẾNG NHẬT

👩🏻‍⚖️ Đội ngũ giáo viên tâm lý, từng trải qua các lớp đào tạo luyện thi chứng chỉ cho các đối tượng học viên với nhiều mục đích học tập khác nhau như du học, xuất ngoại, làm việc, hội thoại…

👩🏻‍⚖️ Bên cạnh đó, gia sư còn am hiểu tường tận và sâu rộng về đất nước và con người Nhật nên có thể truyền tải đến các bạn học viên tất cả tinh túy của môn học này.

👩🏻‍⚖️ Các bạn dể dàng hiểu được tâm lí cũng như cách sống của người bản xứ, từ đó giúp bạn chiếm lấy thiện cảm từ họ.

👩🏻‍⚖️ Chất lượng gia sư luôn là chỉ tiêu hàng đầu của trung tâm chúng tôi.

👩🏻‍⚖️ Khi đăng ký học, các bạn được tư vấn lựa chọn các gia sư chuyên nghiệp đến từ các trường đại học ngoại ngữ, các giáo viên lâu năm đã dạy ở các trường, trung tâm chuyên tiếng Nhật.

so dem tieng nhat

👩🏻‍⚖️ Chúng tôi luôn tự hào với đội ngũ gia sư giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, nhiệt tình, năng động tận tụy với nghề.

👩🏻‍⚖️ Các học viên muốn tìm gia sư tiếng Nhật đã có trung tâm chúng tôi. Chúng tôi sẽ đem lại chất lượng giảng dạy và thái đội hợp tác tốt nhất đến cho các bạn.

👩🏻‍⚖️ Môi trường chúng tôi tạo ra trước hết là sự thân thiện, lành mạnh và có sự tương tác cao.

👩🏻‍⚖️ Chúng tôi ý thức được việc giáo dục phải đi theo một xu hướng mới, một định hướng mới thì mới mang lại một năng lực vững bền cho học viên.

👩🏻‍⚖️ Do đó, từng ngày, chúng tôi luôn đổi mới và đặt yêu cầu rất cao ở đội ngũ giáo viên, để thực sự mang lại kết quả học tập như mong muốn.

👩🏻‍⚖️ Nếu bạn đã muốn một sự thay đổi mới, đừng đi theo những lối mòn bạn nghĩ, hãy mạnh dạn thử sức với một ngôn ngữ mới, một thử thách mới.

👩🏻‍⚖️ Sẽ là khó khăn và gian nan đối với người bắt đầu, nhưng cũng thật vĩ đại và lớn lao đối với người biết cách vượt qua và không nản chí.

👩🏻‍⚖️ Hãy cùng trung tâm gia sư tiếng Nhật Tâm Tài Đức hiện thực hóa những giấc mơ của bạn.

chao hoi bang tieng nhat

✅ ĐĂNG KÝ HỌC TIẾNG NHẬT

✅ BƯỚC 1

🇯🇵 Khi học viên đang ký học đội ngũ tư vấn viên sẽ hỏi kỹ các thông tin xác thực của học viên như:

1. Trình độ tiếng Nhật hiện tại của học viên đã học qua căn bản chưa hay mới bắt đầu học.

2. Học viên là học sinh trung học cơ sở học tiêng Nhật theo chương trình của bộ giáo dục và đào tạo, sinh viên đại học hay đối tượng là người đi làm, cần học những kỹ năng nào: Nghe, nói (trò chuyện) hay Nghe, nói, đọc, viết (Tổng quát) hay luyện thi các chứng chỉ năng lực tiếng Nhật N5, N4, N3, N2, N1…

manga doremon

3. Thời gian cụ thể học viên rảnh vào những khung thời gian nào để sắp xếp giáo viên.

4. Địa chỉ chỗ học để trung tâm chọn giáo viên gần khu vực này cho giáo viên tiện đi lại.

5. Thông tin cơ bản của học viên như: Số điện thoại, tên của học viên…

6. Học viên học một mình hay một nhóm bạn bè học chung hay đăng ký cho nhiều nhân viên trong công ty cùng học.

7. Thông báo với học viên thời lượng học mỗi buổi học là: 2 tiết (90 phút) , mỗi tuần học viên có thể đăng ký học từ khoảng: 2 buổi, 3 buổi hoặc 4 đến 5 buổi tùy vào nhu cầu của học viên. Nếu học viên có thời gian rảnh nhiều hoặc cần học gấp hay không mà quyết định nên đăng ký học nhiều hay ít buổi trên tuần.

🇯🇵 Tùy theo yêu cầu, ngân sách, trình độ hiên tại và học viên cần chọn dạng gia sư là giáo viên hay sinh viên…đội ngũ tư vấn sẽ báo giá cho học viên.

🇯🇵 Nếu học viên đồng ý mức phí trung tâm sẽ lưu thông tin và sắp xếp giáo viên phù hợp cho học viên.

✅ BƯỚC 2

🇯🇵 Tiếp theo trung tâm sẽ sắp xếp gia sư phù hợp nhất với yêu cầu của học viên về vị trí, thời gian rảnh của học viên và giáo viên phù hợp với nhau.

🇯🇵 Thời gian sắp xếp có thể nhanh hoặc chậm tùy thuộc vào vị trí của học viên các học viên ở các khu vực trung tâm đi lại thuận tiện và thời gian rảnh nhiều sẽ dễ sắp xếp giáo viên hơn.

✅ BƯỚC 3

🇯🇵 Khi sắp xếp xong giáo viên phù hợp trung tâm sẽ gọi điện cho phụ huynh hoặc học viên để thông báo và hẹn giờ để gia sư đến gặp trực tiếp phụ huynh hoặc học viên để làm quen, trao đổi về giáo trình và sắp xếp lịch học.

✅ BƯỚC 4

🇯🇵 Trong quá trình trao đổi nếu có trở ngại gì phụ huynh hoặc học viên có thể gọi điện phản hồi để được trung tâm hỗ trợ.

hiragana va katakana

✅ BẢNG GIÁ GIA SƯ TIẾNG NHẬT

1 tuần dạy1 buổi
Mức giá 250,000 
1 tuần dạy2 buổi
Mức giá 500,000 
1 tuần dạy3 buổi
Mức giá 750,000 
1 tuần dạy4 buổi
Mức giá 1,000,000 
1 tuần dạy5 buổi
Mức giá 1,250,000 

☘️ Tùy theo yêu cầu, trình độ, học lâu dài hay cấp tốc và khu vực của học viên ở
mà mức phí trên có thể sẽ thay đổi cho phù hợp.

dang ky hoc tieng nhat

Mọi chi tiết liên hệ với chúng tôi :

thong tin lien he hoc tieng nhat

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT TPHCM

Cô : QUANG THỊ NGỌC TIÊN
Sinh năm : 1982
Số CMND : …………….
Tốt nghiệp trường ĐH Sư Phạm chuyên ngành Tiếng Nhật
Địa chỉ : Đường Triệu Quang Phục, Phường 11, Quận 5, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : …………….
Email : ……………………

Thầy : NGUYỄN CÔNG NGỌC
Sinh năm : 1991
Địa chỉ : Đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường 7, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : ……………………….
Giới tính : Nam
Số CMND : …………………………..
Tốt nghiệp trường ĐHSP TPHCM chuyên ngành Tiếng Nhật

Em : TRƯƠNG THỊ XUÂN AN
Sinh năm : 1994
Số CMND : ………………….
Sinh viên năm 4 trường ĐH Nguyễn Tất Thành chuyên ngành Tiếng Anh – Nhật
Địa chỉ : Đường Phan Văn Trị, Phường 12, Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : ………………………..

Gia sư tiếng nhật HCM

Em : LÊ THIỆN TÂM
Sinh năm : 1986
Số CMND : ……………………
Tốt nghiệp hệ CĐ Trường ĐHSPKT chuyên ngành Ô Tô, có bằng N3
Địa chỉ : Linh Trung, Quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : ………………………

Gia sư dạy tiếng Nhật TPHCM

Em : LÊ THỊ BẢO CHÂU
Sinh năm : 1996
Số CMND : ……………………
Sinh viên năm 2 trường ĐH Huflit chuyên ngành Tiếng Nhật
Địa chỉ : Đường Số 1, Phường 11, Quận Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : …………………………

Thầy : TẠ ĐỨC LUÂN
Trình độ : Giáo viên
Số CMND.:……………………
Địa chỉ : Đường Trung Mỹ Tây, Phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại :……………………………
Email :…………………………………

Dạy kèm tiếng Nhật tại Hồ Chí Minh

Cô : NGUYỄN THỊ THU HỒNG
Sinh năm : 1988
Số CMND : ………………..
Tốt nghiệp trường ĐHNN Huế chuyên ngành Tiếng Nhật, có bằng N2 Tiếng Nhật
Địa chỉ : Đường Nguyễn Hữu Cảnh, Phường 19, Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : ………………….
Email : ……………………….

Đáp ứng mọi nhu cầu tìm giáo viên dạy tiếng nhật tại nhà của các bạn học viên.

Thầy : NGUYỄN MẬU PHONG
Sinh năm : 1979
Số CMND : ……………………………
Tốt nghiệp trường ĐHGTVT chuyên ngành kinh tế, công tác bên Nhật 3 năm có bằng N2
Địa chỉ : Ngã Tư Hóc Môn Quốc Lộ 22, Xã Xuân Thới Sơn, Huyện Hóc Môn, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : ……………………………

Tìm gia sư tiếng Nhật tại TPHCM

Cô : LÊ THỊ HOÀI TÂM
Sinh năm : 1993
Số CMND : …………………
Tốt nghiệp trường ĐH Văn Hiến chuyên ngành Tiếng Nhật
Đang dạy tại : …………………
Địa chỉ : Đường Bình Quới, Phường 28, Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : ……………………………

Tuyển gia sư tiếng Nhật tại TPHCM

Thầy : DƯƠNG BÁ TRIỆU
Sinh năm : 1983
Địa chỉ : Thạnh Xuân, Quận 12, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : …………………..

Dạy kèm tiếng Nhật tại nhà TPHCM

Thầy : NGUYỄN HỒNG KHANH
Sinh năm : 1983
Số CMND : ………………….
Đang dạy tại : …………………..
Địa chỉ : Đường Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : …………………
Email : ………………………………..

Thầy : TRẦN VĂN ĐÔNG
Sinh năm : 1984
Số CMND : …………………………..
Địa chỉ : Quốc Lộ 1K, Phường Linh Xuân, Quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : …………………………
Email : ……………………………………….

Tuyển gia sư tiếng Nhật TPHCM

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT HÀ NỘI

Thầy : VŨ VĂN DUY
Sinh năm : 1987
Địa chỉ : Cầu Yên Hòa, Phường Láng Thượng, Quận Đống Đa, Thành Phố Hà Nội
Điện thoại : …………..
Email : …………………
Giới tính : Nam
Số CMND : ……………….
Đang dạy trường : ……………………
Tốt nghiệp trường ĐH Văn Hiến chuyên ngành Tiếng Nhật
Gia sư tiếng Nhật tại nhà Hà Nội

Em : TRẦN THỊ HẠNH
Sinh năm : 1991
Số CMND : ……………………..
Sinh viên năm 2 trường ĐH Phương Đông chuyên ngành Tiếng Nhật
Địa chỉ : Phố Trung Kính, Quận Cầu Giấy, Thành Phố Hà Nội
Điện thoại : …………………………….
Email : …………………………………………

Gia sư dạy tiếng Nhật tại Hà Nội

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT TÂY NINH

Cô : NGUYỄN THỊ BÍCH HOA
Sinh năm : 1986
Số CMND : ……………………….
Tốt nghiệp Hệ CĐ trường ĐH Hùng Vương chuyên ngành Tiếng Nhật
Địa chỉ : Ninh Sơn, Ấp Ninh An Đường Bời Lời, Phường Ninh Sơn, Thành Phố Tây Ninh, Tỉnh Tây Ninh
Điện thoại : ………………………..
Email : ………………………………

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT QUẢNG NGÃI

Thầy : VƯƠNG HUY ĐỨC
Sinh năm : 1989
Số CMND : ………………..
Điện thoại : ……………………….
Email : ………………………..
Địa chỉ : Đại Lộ Hùng Vương, Phường Trần Phú, Thành Phố Quảng Ngãi, Tỉnh Quảng Ngãi

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT CẦN THƠ

Thầy : PHẠM XUÂN TÙNG
Sinh năm : 1993
Số CMND : …………………….
Địa chỉ : Đường Nguyễn Trãi, Phường Cái Khế, Quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ
Điện thoại : ……………………..
Email : …………………………..

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT NINH BÌNH

Họ và Tên : HOÀNG THỊ THU
Địa chỉ : xóm 7, xã Yên Mỹ huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
Điện thoại : …………………
Email :……………………..
Giới tính : Nữ
Số CMND:……………………………….
Gia sư môn : Tiếng Nhật

✅ GIA SƯ TIẾNG NHẬT BIÊN HÒA ĐỒNG NAI

Thầy : NGUYỄN NGỌC LONG
Sinh năm : 1980
Địa chỉ : Đường Nguyễn Ái Quốc Phường Hố Nai, Thành Phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai
Điện thoại : …………..
Email : …………….
Có bằng N2 Tiếng Nhật

✅ DẠY KÈM TIẾNG NHẬT TẠI ĐÀ NẴNG

✅ NHỮNG CÂU HỎI THƯỜNG GẶP

❓ Học tiếng Nhật có khó không ?

🇯🇵 Học Tiếng Nhật thành thạo không khó, nhưng cái khó là các bạn có lý do học chính đáng và chịu kiên trì theo đuổi hay không?

❓ Có nhiều học viên chưa học qua tiếng Nhật bao giờ muốn hỏi học lấy N5 mất khoảng bao lâu ?

🇯🇵 Nếu những bạn chưa biết gì về tiếng nhật thì số tiết phải học để lấy được N5 là 240 tiết ( 1 tiết = 45phút ), thời lượng này theo một số trung tâm dạy nhé và cũng tùy vào khả năng tiếp thu của từng học viên mà thời lượng học có thể ít hơn.

🇯🇵 Còn nếu bạn học với gia sư 1 kèm 1 thì tiến độ sẽ nhanh hơn rất nhiều và nhanh nhất trong tất cả các cách học tiếng Nhật thông thường hiện nay.

Tokyo
Tokyo

✅ TUYỂN GIA SƯ TIẾNG NHẬT

🇯🇵 Để phát triển thị trường gia sư tiếng Nhật trên phạm vi toàn quốc và lấn sân sang nước bạn, trung tâm gia sư Tâm Tài Đức cần tuyển gia sư tiếng Nhật:

🇯🇵 Gia sư đã và đang là giảng viên, giáo viên dạy tiếng Nhật

🇯🇵 Các bạn gia sư là sinh viên khoa tiếng Nhật của các Đại học Hà Nội, Đại học ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học dân lập Phương Đông, Đại học dân lập Thăng Long, Đại học Ngoại Thương, Đại học FPT, Đại học ngoại ngữ Đà Nẵng, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học ngoại ngữ Huế, Đại học Đà Lạt, Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Đại học ngoại ngữ-tin học thành phố Hồ Chí Minh, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học mở thành phố Hồ Chí Minh, Cao đẳng ngoại ngữ công nghệ Việt Nhật Bắc Ninh…

🇯🇵 Việc làm gia sư tiếng nhật đa dạng và linh động có lớp yêu cầu dạy một kèm một (he-she hoặc ngược lại) và một nhóm nhỏ thường 2 đến 5 học viên do các bạn học viên lập nhóm để học chung với nhau cho có tinh thần đồng đội hoặc nhóm khoảng 6 đến 15 học viên thường là các lớp học do công ty tổ chức đào tạo cho cán bộ công nhân viên của công ty.

🇯🇵 Và thêm một hình thức học tiếng Nhật online nữa đang được nhiều bạn trẻ quan tâm vì ngồi dạy tại nhà qua mạng internet không phải hít xăng, khói bụi, kẹt đường, nắng gió làm mất đi vẻ thanh tú (nói các bạn nữ nhé)

Tuyển gia sư tiếng Nhật
Tuyển gia sư tiếng Nhật

🇯🇵 Kế tiếp nữa không kém phần quan trọng mà mọi người đều rất rất là quan tâm đó là: Quyền lợi và trách nhiệm của các bên vì cùng làm việc là chung với nhau

🇯🇵 Quyền lợi trước nhé:

💲 Các bạn nhật lớp dạy tiếng Nhật do trung tâm cung cấp với mức phí giao động tùy theo khu vực, yêu cầu, trình độ của học viên (định lượng cho có vẻ khoa học) dao động khoảng 200.000đ đến 220.000đ/buổi-1.5 tiếng đối với lớp dạy tại nhà của học viên

💲 Lớp dạy tại công ty thì tùy theo số lượng học viên nên sẽ có mức giá cụ thể khi có lớp chứ giờ cũng không biết nói nhiêu (định tính nhé)

💲 Lớp dạy qua mạng lương dao động khoảng 150.000đ-160.000đ/buổi-1.5 tiếng nhé bạn

🇯🇵 Nghĩa vụ là đây:

🍀 Đóng phí nhận lớp gia sư nhé vì các lớp dạy trung tâm bỏ chi phí quảng cáo, phát triển website, đăng báo vì hết còn rao vặt dán cột điện miễn phí như xưa được rồi, dán vậy bọn tây qua ngó thấy bọn nó cười mình chết.

🍀 Các bạn thắc mắc sao dạy qua mạng lương thấp hơn thì đây là giải thích, bạn dạy lớp này công ty sẽ thu phí của học viên và đã khấu trừ các chi phí quảng cáo, thuê mướn nhân viên, mặt bằng, tiền thuế các cái nên bạn nhận lớp sẽ không phải đóng phí nữa nhé.

🍀 Bạn có thể tham khảo thêm gia sư trực tuyến là gì để giải đáp thắc mắc cho các bạn vì khi tư vấn các bạn cứ hỏi dạy trực tuyến là sao, vì các bạn vẫn quen với thức thức gia sư truyền thống còn nếu thắc mắc thêm nữa là thì có thể xem tiếp gia sư truyền thống luôn cho nó mạch lạc và sáng sủa nhé mọi người.

🍀 Để đăng ký làm gia sư tiếng Nhật các bạn có hơn một cách

1. Nhắn tin qua Zalo bằng cách search số điện thoại này : 0908290601 sẽ tìm ra được Zalo và nhắn tin qua đó

2. Viếng thăm Facebook: facebook.com/tamtaiduc và bạn nhắn qua đó

3. Nếu chới với anh Sky : giasutamtaiduc

4. Comment ở cuối bài viết này

4 cách trên để bạn liên hệ nhân viên Tâm Tài Đức sẽ tư vấn và gở form cho bạn đăng ký.

Quên còn thêm cách nữa:

5. Bạn vào link này: https://giasutamtaiduc.com/dang-ky-lam-gia-su.html để xem nội dung thông tin mẫu để đăng ký

🍀 Bạn toàn quyền lực chọn cách nào bạn thích nhất nhé !

🎓 Các kỳ thi tiếng Nhật

🥇 Kỳ thi năng lực tiếng Nhật JLPT

🎈 Kỳ thi năng lực tiếng Nhật (Nhật: 日本語能力試験にほんごのうりょくしけん (Nhật Bản ngữ năng lực thí nghiệm) Hepburn: Nihongo nōryoku shiken?, tiếng Anh: “Japanese Language Proficiency Test” – JLPT) là kì thi lâu đời nhất, có uy tín nhất, được phổ biến rộng rãi tại hơn 50 quốc gia trên toàn thế giới, thích hợp với tất cả những người học tiếng Nhật muốn kiểm tra và đánh giá trình độ năng lực Nhật ngữ của mình.

✨ Ưu điểm

💧 Công tác tổ chức thi mang tính chuyên nghiệp và có nhiều ứng dụng trong giao tiếp và cuộc sống hàng ngày.

✨ Mục đích

💧 Kiểm tra, đánh giá trình độ và năng lực sử dụng tiếng Nhật của người học.

✨ Các kỳ thi

💧 1 năm tổ chức 2 lần: vào chủ nhật tuần đầu tiên của tháng 7 và tháng 12 hàng năm.

✨ Cơ quan tổ chức thi

Hiệp hội hỗ trợ quốc tế Nhật Bản và Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản.

✨ Cách tính điểm

💧 Chia làm 5 cấp độ: N1, N2, N3, N4, N5; trong đó N1 là cấp cao nhất, N5 là cấp độ thấp nhất. Điểm tối đa: 180 điểm cho 03 nhóm môn thi.

💧 Các phần thi đều có tổng điểm trong phạm vi 0 ~ 180, trong đó:

💕 Cấp N1, N2, N3:

💧 Kiến thức ngôn ngữ (Chữ, từ vựng, ngữ pháp): 0 ~ 60

💧 Đọc hiểu: 0 ~ 60

💧 Nghe hiểu: 0 ~ 60

💕 Cấp N4, N5:

💧 Kiến thức ngôn ngữ (Chữ, từ vựng, ngữ pháp) – Đọc hiểu: 0 ~ 120

💧 Nghe hiểu: 0 ~ 60

💕 N1:

💧 Điểm tổng: Trên 100 điểm (Tối đa: 180)

💧 Điểm kiến thức ngôn ngữ (Chữ, từ vựng, ngữ pháp): Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

💧 Điểm đọc hiểu: Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

💧 Điểm nghe hiểu: Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

💕 N2:

💧 Điểm tổng: Trên 90 điểm (Tối đa: 180)

💧 Điểm kiến thức ngôn ngữ (Chữ, từ vựng, ngữ pháp): Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

💧 Điểm đọc hiểu: Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

💧 Điểm nghe hiểu: Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

💕 N3:

💧 Điểm tổng: Trên 95 điểm (Tối đa: 180)

💧 Điểm kiến thức ngôn ngữ (Chữ, từ vựng, ngữ pháp): Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

💧 Điểm đọc hiểu: Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

💧 Điểm nghe hiểu: Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

💕 N4:

💧 Điểm tổng: Trên 90 điểm (Tối đa: 180)

💧 Điểm kiến thức ngôn ngữ & Đọc hiểu: Trên 38 điểm (Tối đa: 120)

💧 Điểm nghe hiểu: Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

💕 N5:

💧 Điểm tổng: Trên 80 điểm (Tối đa: 180)

💧 Điểm kiến thức ngôn ngữ & Đọc hiểu: Trên 38 điểm (Tối đa: 120)

💧 Điểm nghe hiểu: Trên 19 điểm (Tối đa: 60)

✨ Thời lượng học bắt buộc để đậu bài thi
Bảng so sánh dữ liệu
Bảng so sánh dữ liệu

💞 Kỳ thi năng lực tiếng Nhật NAT-TEST

💓 Kỳ thi năng lực tiếng Nhật NAT-TEST là một kì thi có uy tín, được phổ biến rộng rãi, thích hợp với tất cả những người học tiếng Nhật muốn kiểm tra và đánh giá năng lực của mình.

💓 Mục đích

💙 Kiểm tra, đánh giá trình độ và năng lực sử dụng tiếng Nhật của người học.

💓 Ưu điểm

💙 Có nhiều kỳ thi trong 1 năm

💙 Được thi sau 5 tuần đăng ký

💙 Nhanh có kết quả, 3 tuần sau khi thi

💓 Các kỳ thi

💙 1 năm tổ chức 6 lần: vào tháng 2, tháng 4, tháng 6, tháng 8, tháng 10, tháng 12.

💓 Cơ quan tổ chức thi

💙 Ủy ban Nat – Test.

💓 Cách tính điểm

💙 Chia làm 4 cấp, từ cấp 1 đến cấp 4. Cấp 1 là cấp cao nhất, cấp 4 là cấp thấp nhất. Điểm tối đa cho hình thức thi này là 180 điểm.

🇯🇵 Cách học tiếng Nhật tại nhà

📝 Có nhiều cách để học tiếng Nhật cho người mới bắt đầu học tiếng Nhật.

📝 Trong đó có một cách học cực kỳ hiệu quả đó là cách tự học tiếng Nhật tại nhà

📝 Vậy liệu việc tự học tiếng Nhật tại nhà có khó không và học như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất ?

📝 Để trả lời cho câu hỏi này trung tâm gia sư Tâm Tài Đức sẽ cùng bạn phân tích và tìm ra câu trả lời tối ưu nhé

🇯🇵 Ưu và nhược điểm của việc tự học tiếng Nhật tại nhà

1. Ưu điểm
  • Giúp bạn nhớ lâu hơn vì những kiến thức mới là do bạn tự mày mò và tìm hiểu não sẽ hình thành các liên kết mới để lưu trữ kiến thức.
  • Bạn tự giác học tập, không bị gò bó về thời gian, bạn có thể học ở đâu, vào thời gian nào mà bạn thích như: Sau giờ làm, trước khi đi ngủ, thời gian chờ con tan học ở trường, trên xe buýt chẳn hạn việc này giúp bạn gia tăng vốn từ và lượng kiến thức đáng kể tránh để thời gian trôi qua mà không làm gì cả
  • Không bị áp lực về bài vở hay thi cử nên tâm lý thoải mày cho việc tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên
  • Bãn sẽ nhận thấy mình tiến bộ lên từng ngày nếu bạn có động lực vô cùng to lớn và một kế hoạch cho việc học tập một cách hợp lý.
2. Nhược điểm
  • Tự học tiếng Nhật tại nhà sẽ mất thời gian hơn rất nhiều vì bạn không có sự hỗ trợ từ thầy cô. Bạn phải tự mài mò tìm kiếm tài liệu, phần mềm, giáo trình phù hợp cho mình
  • Bạn phải tự tìm ra phương pháp và lộ trình học tập cho chính mình. Nếu có lỡ đi sai đường thì nguy cơ trì hoãn và bỏ cuộc là rất cao.
  • Chính vì không có bất kỳ sự ràng buộc nào về thi cử, nó là điểm mạnh cũng đồng thời là điểm yếu nên bạn dễ dàng từ bỏ và kiến thức rất dễ bị hổng vì có ai phát hiện và sửa sai kiệp thời cho bạn.
🇯🇵 Bí kiếp tự học tiếng Nhật tại nhà hiệu quả dành cho bạn

📗 Lên kế hoạch và tự mình vạch ra một lộ trình trình học tập hợp lý

📗 Đều tiên bạn phải thuộc làu làu hai bảng chữ cái Hiragana và Takagana để có thể viết được những câu giao tiếp cơ bản tiếng Nhật.

bảng chữ cái Hiragana
Bảng chữ cái Hiragana
bảng chữ cái Takagana
Bảng chữ cái Takagana

📗 Bạn hãy dành từ 3 ngày đến 1 tuần để học 2 bộ chữ này.

📗 Nếu bạn thực sự tập trung và danh nhiều thời gian cho việc học thì chỉ cần khoảng 3 ngày là bạn có thể thuộc làu làu chúng.

📗 Đây là cơ sở để bạn có thể tự học tiếng Nhật ở nhà.

 Tải về Bản bảng chữ cái Tiếng Nhật để tập luyện viết(PDF)

🇯🇵 Tìm tài liệu học tiếng Nhật

📘 Những giáo trình cơ bản mà mọi người thường học lúc mới bắt đầu hay chọn lựa là: Minna no Nihongo.

📘 Đây là bộ giáo trình thông dụng và có được nhiều sự hỗ trợ từ cộng đồng mạng cũng như các diễn đàn, blog hay các trang thảo luận về tiếng Nhật như trang Facebook “Yêu Nhật Bản” chẳng hạn.

🇯🇵 Tài liệu luyện thi năng lực tiếng Nhật

📘 Khi bạn đã thực sự quyết tâm và theo đuổi việc tự học tiếng Nhật tại nhà, bạn có thể vừa học vừa đặt mục tiêu luyện thi năng lực tiếng Nhật N5.

📘 Vì khi có cho mình mục tiêu cụ thể bạn sẽ hình dung con đường mình sẽ đi một cách dễ dàng hơn.

📘 Giáo trình Minna no Nihongo thì học đến bài số 3 là bạn có thể bắt đầu luyện thi N5 được rồi.

📘 Khi học hết 50 bài Minna no Nihongo bạn sẽ chuyển sang học giáo trình minna nihongo chuukyu và tập trung vào nhiều hơn ôn thi N4, N3, N2, N1.

🇯🇵 Bí quyết giúp bạn chinh phục N2

📚 Để chinh phục N2 bạn cũng cần có những bí quyết cho riêng mình. Bạn có thể tham khảo những bí quyết đó ngay sau đây nhé

🇯🇵 Học song song cả ngữ pháp và từ vựng để đạt kết quả tối ưu:

✴️ Nếu bạn cần tiếng Nhật cho công việc và các cuộc thi thì việc học vẹt là điều không thể xảy ra. Bởi vì học vẹt chỉ thích hợp khi mục tiêu của bạn là giao tiếp cơ bản.

🇯🇵 Luyện viết thật nhiều vào:

✴️ Khi tự học tiếng Nhật ở nhà chúng ta thường có thói quen mua bút dạ quang về gạch chân những điều mình cần ghi nhớ.

✴️ Nhưng có hiệu quả hay không khi chúng ta không xem lại những điều mình đã nốt. Vấn đề này thì chỉ có thể là bút thì nhớ thật đấy nhưng người đã quên mất tiêu.

✴️ Mẹo nhỏ cho bạn là viết lại những điều mình cần ghi nhớ một lần nữa ra một quyển sổ học tiếng Nhật riêng. Ngoài ra có thể có hẳn file trên máy tính về học tiếng Nhật.

✴️ Một lần viết là một lần nhớ và có cơ hội ôn lại những gì mình đã học.

✴️ Đừng nghĩ mới biết ít thì không nên viết ra nhé. Biết ít thì càng nên viết, biết nhiều thì viết nhiều hơn. Bắt đầu từ việc viết những câu đơn giản, ngắn gọn.

✴️ Sau đó viết câu dài hơn, viết đoạn văn và viết cả bài văn.

✴️ Tự mình viết ra sẽ nhớ lâu và đặt từ vựng vào từng hoàn cảnh phù hợp sẽ làm cho khả năng kết nối và nhớ từ của bạn lâu hơn.

🇯🇵 Không học riêng lẻ từng từ mà học theo cụm từ nhé

✴️ Vì sao lại vậy, bởi vì học cả cụm từ giúp bạn nhớ được nhiều từ hơn và có thể vận dụng nó vào trong những ngữ cảnh nhất định.

✴️ Bạn có thể tham khảo cách học này ngay trong từ điển vì khi giải thích nghĩa của từ, từ điển thường lấy luôn ví dụ minh họa, các cách sử dụng nó.

tra từ điển
Tra từ điển

✴️ Hãy sử dụng cách học này ngay khi bạn tự học tiếng Nhật ở nhà để thấy được hiệu quả rõ rệt của nó nhé.

📝Thiết lập mục tiêu và đặt ra lộ trình ngay bây giờ

⭕ Để đảm bảo cho việc tự học tiếng Nhật tại nhà diễn ra suôn sẻ và có hiệu quả, trước hết bạn cần thiết lập cho mình một mục tiêu cụ thể, rõ ràng và có thể đo lường được.

📝 Thiết lập mục tiêu

⭕ Ví dụ:

✔️ Tôi sẽ đạt được trình độ N5 trong vòng 3 tháng

✔️ Tôi sẽ đạt được trình độ N3 trong vòng một năm.

⭕ Đừng đưa ra những mục tiêu chung chung kiểu như giỏi tiếng Nhật trong thời gian ngắn nhất.

⭕ Trong thực tế bạn khó có thể định nghĩa được như thế nào là giỏi và như thế nào là thời gian ngắn nhất bởi nó còn tùy thuộc vào từng người, từng hoàn cảnh.

⭕ Bạn đặt ra một mục tiêu không rõ ràng thì cái lười cố hữu bên trong mỗi người sẽ có lý do trì quảng và sẽ đánh gục bạn trong những lúc động lực học tập của bạn xuống thấp

⭕ Quyết tâm là yếu tố quan trọng hàng đầu khi bạn quyết định tự học tiếng Nhật tại nhà và bạn có ý chí thật mãnh liệt thì nhất định bạn sẽ thành công

📝 Vạch ra lộ trình cụ thể

⭕ Một lộ trình cụ thể, hợp lý sẽ giúp cho bạn kiểm soát được quá trình học và là tác nhân quan trọng giúp bạn đạt được mục tiêu.

⭕ Nói chính xác là bạn cần chia nhỏ mục tiêu dài hạn đã đặt ra thành những mục tiêu ngắn hơn để bạn dễ dàng theo dõi được tiến độ công việc.

⭕ Nếu bạn đạt được những mục tiêu ngắn hạn đã đề ra thì xin chúc mừng bạn, còn nếu chưa đạt được thì bạn cần ngồi xuống xem xét lại mục tiêu và điều chỉnh lại thời gian cách học sao cho bạn phải đạt được những mục tiêu ngắn hạn để sau cùng mục tiêu dài hạn của bạn phải được hoàn thành.

🎇 Tiếng Nhật

🎆 Tiếng Nhật Bản, tiếng Nhật hay Nhật ngữ (日本語にほんご (Nhật Bản ngữ) Nihongo?, [ɲihoŋɡo] hoặc [ɲihoŋŋo]) là một ngôn ngữ Đông Á được hơn 130 triệu người sử dụng ở Nhật Bản và những cộng đồng dân di cư Nhật Bản khắp thế giới.

🎆 Nó là một ngôn ngữ chắp dính (khác biệt với tiếng Việt vốn thuộc vào loại ngôn ngữ đơn lập phân tích cao) và nổi bật với một hệ thống các nghi thức nghiêm ngặt và rành mạch, đặc biệt là hệ thống kính ngữ phức tạp thể hiện bản chất thứ bậc của xã hội Nhật Bản, với những dạng biến đổi động từ và sự kết hợp một số từ vựng để chỉ mối quan hệ giữa người nói, người nghe và người được nói đến trong cuộc hội thoại.

🎆 Kho ngữ âm của tiếng Nhật khá nhỏ, với một hệ thống ngữ điệu rõ rệt theo từ.

Tiếng Nhật cổ nhất được biết đến chủ yếu dựa vào trạng thái của nó vào thế kỷ thứ VIII, khi ba tác phẩm chủ yếu của tiếng Nhật cổ được dịch (hai bộ sử Kojiki (古事記こじき (Cổ sự ký)?), Nihon Shoki (日本書紀にほんしょき (Nhật Bản thư kỷ)?), và thi tập Man’yoshu (万葉集まんようしゅう (Vạn diệp tập)?)); nhưng một số lượng tài liệu ít hơn, chủ yếu là chữ khắc, còn cổ hơn. Những chứng thực về tiếng Nhật cổ nhất có thể tìm thấy trong một số tư liệu thành văn của Trung Quốc từ năm 252.

🎆 Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba kiểu chữ: kanji (漢字かんじ (Hán tự)? “chữ Hán” kiểu Nhật Bản, có một số khác biệt so với Trung Quốc) và hai kiểu chữ tượng thanh (ghi âm tiết) – kana (仮名かな (giả danh)?) gồm kiểu chữ nét mềm hiragana (平仮名ひらがな (bình giả danh)?) và kiểu chữ nét cứng katakana (片仮名カタカナ (phiến giả danh)?).

🎆 Kanji dùng để viết các từ Hán (mượn của Trung Quốc) hoặc các từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện rõ nghĩa.

🎆 Hiragana dùng để ghi các từ gốc Nhật và các thành tố ngữ pháp như trợ từ, trợ động từ, đuôi động từ, tính từ v.v. Katakana dùng để phiên âm từ vựng nước ngoài (kể cả tiếng Trung, tuy có chữ Hán nhưng Katakana vẫn được dùng để phiên âm tiếng Quan Thoại, ví dụ như Thượng Hải 上海, tiếng Nhật dùng “シャンハイ (Shanhai) ” để phiên âm từ bính âm là “Shànghăi “, ít khi họ dùng từ Hán-Nhật là “じょうかい” Joukai), và có lúc thay Hiragana để nhấn mạnh từ gốc Nhật (vd như “Kimi” (bạn/cậu), có lúc dùng キミ để nhấn mạnh cho 君きみ, giống như trong tiếng Việt ta nhấn mạnh bằng cách cho “ngoặc kép” hay VIẾT HOA).

🎆 Bảng ký tự Latinh Rōmaji cũng được dùng trong tiếng Nhật hiện đại, đặc biệt là ở tên và biểu trưng của các công ty, quảng cáo, nhãn hiệu hàng hoá, khi nhập tiếng Nhật vào máy tính và được dạy ở cấp tiểu học nhưng chỉ có tính thí điểm.

🎆 Số Ả Rập theo kiểu phương Tây được dùng để ghi số, nhưng cách viết số theo Kanji như “一二三” (“nhất nhị tam”) cũng rất phổ biến.

🎆 Từ vựng Nhật chịu ảnh hưởng lớn bởi những từ mượn từ các ngôn ngữ khác.

🎆 Một số lượng khổng lồ các từ vựng mượn từ tiếng Hán, hoặc được tạo ra theo kiểu của tiếng Hán, qua giai đoạn ít nhất 1.500 năm.

🎆 Từ cuối thế kỷ XIX, tiếng Nhật đã mượn một lượng từ vựng đáng kể từ ngữ hệ Ấn-Âu, chủ yếu là tiếng Anh.

Do mối quan hệ thương mại đặc biệt giữa Nhật Bản và Hà Lan vào thế kỷ thứ XVII, tiếng Hà Lan cũng có ảnh hưởng, với những từ như bīru (từ bier; “bia”) và kōhī (từ koffie; “cà phê”).

💫 Đặc điểm của tiếng Nhật

🌀 Âm vị của tiếng Nhật, ngoại trừ âm “っ” (phụ âm đôi) và “ん” (âm gảy), mang đặc điểm của ngôn ngữ theo âm tiết kết thúc bằng nguyên âm, ngoài ra tiếng Nhật tiêu chuẩn cũng như đa số các phương ngữ tiếng Nhật được nói theo từng nhịp đều nhau.

🌀 Ngữ điệu trong tiếng Nhật là ngữ điệu cao thấp. Trong bộ từ vựng Đại Hòa (大和 Yamato), các nguyên tắc sau đây được áp dụng

1️⃣ Các âm thuộc hàng “ら” (ra) gồm có /ra/ /ri/ /ru/ /re/ /ro/, không đứng ở đầu một từ (do đó các từ bắt đầu bằng hàng “ら” rất hiếm gặp trong tiếng Nhật. Những từ như raku (楽, “lạc”), rappa (らっぱ, “kèn”), ringo (りんご, “táo”), v.v. không phải là từ trong bộ từ vựng Yamato)

2️⃣ Âm kêu không đứng ở đầu một từ (những từ như daku (抱く, “ôm”), dore (どれ, “cái nào”), ba (場, “nơi chốn”), bara (薔薇, hoa hồng) v.v.… là do thế hệ sau sửa đổi)

3️⃣ Các nguyên âm cùng một nguồn gốc không được liền kề nhau (a.o (青, “màu xanh”), ka.i (貝, con sò) trước đây được đọc lần lượt là [awo], [kapi], [kaɸi])

🌀 Những nguyên tắc khác được đề cập ở phần Phân loại cũng như Âm vị.

❇️ Về câu, thứ tự các thành phần trong một câu là “chủ ngữ – tân ngữ – động từ”.

❇️ Tân ngữ đứng trước từ cần tân ngữ. Ngoài ra, để hiển thị danh từ cách, không chỉ đổi thứ tự và chia từ vĩ (phần đuôi từ), mà còn thêm từ khoá thể hiện chức năng ngữ pháp (trợ từ) vào cuối (chắp dính).

❇️ Do đó, xét về mặt phân loại ngôn ngữ, theo quan điểm về thứ tự trong câu theo ngôn ngữ kiểu chủ-tân-động, tiếng Nhật được xếp vào loại ngôn ngữ chắp dính về hình thái (xem thêm phần Ngữ pháp).

❇️ Về từ vựng, ngoài bộ từ vựng Yamato, tiếng Nhật sử dụng rất nhiều chữ Hán được du nhập từ Trung Quốc, ngoài ra gần đây từ vựng phương Tây ngày càng nhiều hơn trong kho từ mượn của tiếng Nhật.

❇️ Về biểu thị thái độ, tiếng Nhật có một hệ thống kính ngữ đa dạng về ngữ pháp và từ vựng để biểu hiện mối quan hệ một cách khôn khéo của người nói đối với người nghe và người được đề cập đến.

❇️ Về phương ngữ, có sự khác nhau lớn giữa miền Đông và miền Tây của Nhật Bản cũng như ở nhóm đảo Ryūkyū.

❇️ Hơn nữa, nếu nhìn vào chi tiết, ở mỗi địa phương lại có một phương ngữ khác nhau.

❇️ Các đặc trưng của ngôn ngữ còn được thể hiện, đầu tiên là ở sự phức tạp của hệ thống chữ viết rất dễ nhận thấy.

❇️ Kanji (漢字, Hán tự) (được sử dụng với cả cách đọc âm Hán (音読み, on’yomi) lẫn âm Nhật (訓読み, “kun’yomi”)), hiragana (平仮名), katakana (片仮名) và bảng rōmaji v.v., nhiều người cho rằng một ngôn ngữ thường xuyên phối hợp hơn 3 kiểu chữ khác nhau như vậy là có một không hai (xem thêm Hệ thống chữ viết).

❇️ Ngoài ra, đại từ nhân xưng rất đa dạng như dùng watakushi, watashi, boku, ore đều để chỉ ngôi thứ nhất và anata, anta, kimi, omae để chỉ ngôi thứ hai, v.v. cũng là một đặc điểm của tiếng Nhật

❇️ Phân loại tiếng Nhật

✴️ Hiện nay việc khẳng định tiếng Nhật thuộc hệ thống nào vẫn nằm trong vòng tranh cãi, cần phải được chứng minh thêm.

✴️ Có nhiều giả thuyết đã được đưa ra, nhưng chưa có giả thuyết nào đủ mạnh để có thể khẳng định điều này.

✴️ Có giả thuyết cho rằng nó thuộc ngữ hệ Altai, đặc biệt khi quan sát tiếng Nhật từ cuối thời Minh Trị.

✴️ Về nguồn gốc, trong tiếng Nhật cổ (từ vựng Đại Hoà), có thể thấy rằng âm /r/ (âm nước) không đứng ở đầu từ, và một loại nguyên âm điều hoà (không để hai nguyên âm cùng loại đứng gần nhau để điều hoà cách đọc) đã được sử dụng.

✴️ Tuy nhiên, bản thân những ngôn ngữ cho rằng mình thuộc ngữ hệ Altai cũng cần phải chứng minh thêm về sự tương quan đó, do đó, đối với đặc trưng rất dễ thấy của tiếng Nhật cổ được đề cập ở bên trên thì tiếng Nhật là ngôn ngữ thuộc “kiểu Altai”, chứ không hoàn toàn thuộc về hệ đó.

✴️ Ngữ hệ Nam Đảo cũng là một hệ âm vị và từ vựng được cho là có sự tương đồng với tiếng Nhật, tuy nhiên, những minh chứng được đưa ra để khẳng định về mặt ngôn ngữ thì không đủ, có rất nhiều ví dụ cho giả thiết trên không thể kiểm chứng được.

✴️ Cho nên nói về mối quan hệ thì có thể nói rằng nó không rõ ràng.

✴️ Có giả thuyết nói rằng tiếng Nhật có quan hệ với ngữ hệ Dravida, nhưng những nhà nghiên cứu nhận thấy mối quan hệ đó không nhiều.

✴️ Shin Ono có giả thuyết cho rằng các điểm từ vựng – ngữ pháp của tiếng Nhật có những điểm chung với tiếng Tamil, tuy nhiên đã có nhiều chỉ trích quan điểm này khi xem xét vấn đề theo phương pháp của ngành so sánh ngôn ngữ học.

✴️ Nếu chúng ta quan tâm đến mối quan hệ đối với cá nhân từng ngôn ngữ, thì ký hiệu, từ vựng v.v. của tiếng Nhật ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tiếng Hán từ xa xưa thông qua chữ Hán và Hán ngữ.

✴️ Nhật Bản thuộc về nhóm các nước có truyền thống sử dụng chữ Hán (các nước đồng văn) mà trung tâm là Trung Quốc.

✴️ Tuy nhiên, cơ sở từ vựng không có sự tương ứng, ngoài ra đặc trưng về văn phạm – phát âm thì hoàn toàn khác Trung Quốc, do đó sự liên quan về hệ thống là không chính xác.

✴️ Đối với ngôn ngữ Ainu, mặc dù cấu trúc câu của ngôn ngữ Ainu tương tự như của tiếng Nhật (kiểu SOV), nhưng văn phạm – hình thái xét theo loại hình thì thuộc về các tổ hợp ngôn ngữ khác nhau, đồng thời cấu tạo âm vị cũng chứng tỏ tồn tại nhiều khác biệt về hữu thanh – vô thanh cũng như việc sử dụng âm tiết đóng.

✴️ Sự liên quan tương tự về mặt từ vựng cơ bản cũng đã được chỉ ra nhưng những dẫn chứng thì không đầy đủ.

✴️ Nói chung sự giống nhau về ngôn ngữ thể hiện ở chỗ, có nhiều từ vựng Ainu rất dễ nhận ra là đều được mượn từ tiếng Nhật.

✴️ Hiện nay, những tài liệu chứng minh ra sự liên quan với nhau của hai ngôn ngữ một cách hệ thống rất thiếu.

✴️ Đối với ngôn ngữ Triều Tiên, mặc dù có nhiều điểm giống nhau về cấu trúc văn phạm, cơ sở từ vựng của hai ngôn ngữ khác nhau rất nhiều.

✴️ Về khía cạnh âm vị, mặc dù có những điểm giống nhau về nguồn gốc cũng như âm nước không đứng ở đầu từ, hay đều dùng một kiểu hoà hợp nguyên âm, v.v., nhưng cũng như ngữ hệ Altai được đề cập ở trên, sự tương tự không đóng vai trò toàn bộ, âm đóng và phụ âm kép (trong tiếng Triều Tiên thời kỳ giữa) tồn tại sự khác nhau lớn so với tiếng Nhật.

✴️ Trong Ngôn ngữ Cao Ly đã biến mất của bán đảo Triều Tiên, cách đếm số cũng như từ vựng được cho là tương tự với tiếng Nhật, nhưng sự thật là hiện nay tiếng Cao Ly là biến mất gần như hoàn toàn, do đó khó có thể trở thành tài liệu kết luận giả thuyết trên một cách có hệ thống.

✴️ Ngoài ra, tiếng Lepcha – tiếng Hebrew cũng đã được đề cập đến, nhưng về mặt so sánh ngôn ngữ học nó được xếp vào loại các giả thuyết sai.

✴️ Ngôn ngữ giống với tiếng Nhật và hệ thống của nó được thấy rõ ràng nhất là ngôn ngữ của nhóm đảo Ryūkyū (thuộc tiểu vương quốc Ryūkyū trước đây).

✴️ Ngôn ngữ Ryūkyū và tiếng Nhật gần gũi một cách dị thường, do đó có khả năng xếp nó thành một phần của tiếng Nhật (phương ngữ Ryūkyū). Trong trường hợp là ngôn ngữ đặc biệt, tiếng Nhật và tiếng Ryūkyū được xếp chung vào Ngữ hệ Nhật Bản.

⭕ Phân bố theo địa lý

➕ Mặc dù tiếng Nhật hầu như chỉ được nói ở nước Nhật, tuy nhiên nó đã và vẫn được dùng ở nhiều nơi khác.

➕ Khi Nhật Bản chiếm đóng Triều Tiên, Đài Loan, một phần của Trung Hoa lục địa, và một số đảo ở Thái Bình Dương trong và trước Chiến tranh thế giới thứ hai, những người dân địa phương ở các nước này bị bắt buộc phải học tiếng Nhật trong các chương trình xây dựng đế chế.

➕ Kết quả là có nhiều người cho đến thập niên 1970 vẫn có thể nói được tiếng Nhật ngoài ngôn ngữ bản địa.

➕ Cộng đồng dân di cư Nhật Bản (lớn nhất là ở Brasil) thường dùng tiếng Nhật để nói chuyện hàng ngày.

➕ Dân di cư Nhật có mặt ở Peru, Argentina, Úc (đặc biệt ở Sydney, Brisbane, và Melbourne) và Hoa Kỳ (chủ yếu ở California và Hawaii).

➕ Còn có một cộng đồng di cư nhỏ ở Davao, Philippines với nhiều hậu duệ người Philippines gốc Nhật sinh sống, cùng với một số ở Laguna, Philippines và nhiều người khác ở khắp Philippines và ở Nhật Bản và trên 245.518 người Philippines ở Nhật, cộng với số người kết hôn với người Nhật, và ở châu Mỹ cũng có thể nói tiếng Nhật.

➕ Con cháu của họ (gọi là nikkei 日系 Nhật hệ), tuy nhiên, hiếm khi nói được tiếng Nhật một cách thông thạo.

➕ Hiện nay ước tính có khoảng vài triệu người ở các nước đang học tiếng Nhật; nhiều trường tiểu học và trung học cũng đưa tiếng Nhật vào chương trình giảng dạy.

➕ Ở Việt Nam tiếng Nhật cũng được dạy từ những năm 1940-1945, nhưng chỉ đến khoảng những năm 1960-1965 mới được dạy có hệ thống ở cả hai miền.

➕ Trong khoảng 10 năm sau đó có một thế hệ người miền Nam rất giỏi tiếng Nhật làm việc tại Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hoá, Tiểu ban Nhật Văn thuộc Ủy ban dịch thuật.

➕ Tuy nhiên, tiếng Nhật chỉ thực sự được giảng dạy mạnh mẽ trở lại trong khoảng 20 năm từ khi bắt đầu đổi mới đến nay khi các trường đại học mở phân khoa tiếng Nhật.

➕ Một số trường phổ thông ở Việt Nam cũng có chương trình giảng dạy tiếng Nhật như Trường Trung học phổ thông Chuyên Ngoại ngữ, Trường Trung học phổ thông Chu Văn An (Hà Nội).

➕ Theo báo cáo trong The World Factbook của CIA, bang Angaur của Palau xem tiếng Nhật là một trong ba ngôn ngữ chính thức cùng với tiếng Angaur và tiếng Anh.

➕ Tiểu bang này là nơi duy nhất trên thế giới xem tiếng Nhật là ngôn ngữ chính thức về mặt pháp lý, nếu như bản báo cáo đó xác thực.

➕ Tuy nhiên, cũng có báo cáo khác nói rằng ngôn ngữ chính thức ở Angaur là tiếng Palau và tiếng Anh, giống như các tiểu bang khác trong nước.

➕ Dù thế nào đi nữa, số người dùng tiếng Nhật ở bang đó cũng là con số không, theo điều tra vào năm 2005.

🔆 Ngôn ngữ chính thức của Nhật

🔅 Tiếng Nhật là ngôn ngữ chính thức “không thành văn” ở Nhật Bản, và Nhật là quốc gia duy nhất dùng tiếng Nhật làm ngôn ngữ hành chính chính thức.

🔅 Có một dạng ngôn ngữ được coi là chuẩn: hyōjungo (標準語?) ngôn ngữ tiêu chuẩn, hoặc kyōtsūgo (共通語?) ngôn ngữ phổ thông).

🔅 Ý nghĩa của hai từ này tương đương nhau.

🔅 Hyōjungo (kyōtsūgo) là một khái niệm tạo thành từ một bộ phận của phương ngữ.

🔅 Ngôn ngữ tiêu chuẩn này được tạo ra sau Minh Trị Duy Tân meiji ishin (明治維新?) (1868) từ thứ ngôn ngữ được nói ở khu vực đô thị Tokyo do nhu cầu trao đổi thông tin.

🔅 Hyōjungo được dạy ở trường học và được dùng trên truyền hình và giao tiếp chính thức, và cũng là bản tiếng Nhật được bàn đến trong bài này.

🔅 Trước đây, tiếng Nhật chuẩn trong văn viết (bungo (文語?), “văn ngữ”) khác với văn nói (kōgo (口語?), “khẩu ngữ”).

🔅 Hai hệ thống này có ngữ pháp khác nhau và có những biến thể về từ vựng.

🔅 Bungo là cách viết tiếng Nhật chủ yếu cho đến khoảng năm 1900, sau đó kogo dần dần mở rộng tầm ảnh hưởng và hai phương pháp này đều được dùng trong văn viết cho đến thập niên 1940.

🔅 Bungo vẫn hữu ích đối với các sử gia, học giả văn chương, và luật sư (nhiều điều luật của Nhật có từ thời Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn còn được viết bằng bungo, mặc dù hiện đang có những nỗ lực để hiện đại hoá ngôn ngữ này).

🔅 Kōgo phương pháp được dùng cho cả nói và viết tiếng Nhật chiếm ưu thế hiện nay, mặc dù ngữ pháp và từ vựng bungo thỉnh thoảng vẫn được dùng trong tiếng Nhật hiện đại để tăng biểu cảm.

☪️ Phương ngữ

🎇 Ở Nhật Bản có rất nhiều phương ngữ (方言 hōgen).

🎇 Sự phong phú này đến từ nhiều yếu tố, do một thời gian dài sinh sống ở quần đảo, địa hình đảo, những dãy núi chia cắt từng phần lãnh thổ, và lịch sử lâu dài sống tách biệt với bên ngoài lẫn bên trong của nước Nhật.

🎇 Các phương ngữ thường khác nhau về ngữ điệu, hình thái biến đổi, từ vựng, và cách dùng các trợ từ.

🎇 Một vài phương ngữ còn khác nhau ở các phụ âm và nguyên âm, mặc dù điều này không phổ biến.

🎇 Năm nhóm phương ngữ chính gồm có 5 nhóm chính:

🎆 Higashi-nihon hōgen (東日本方言, phương ngữ Đông Nhật Bản), phương ngữ phía Đông Nhật Bản, bao gồm cả phương ngữ Tokyo.

🎆 Hachijō hōgen (八丈方言, phương ngữ Bát Trượng), phương ngữ có ảnh hưởng từ phương ngữ Đông Nhật Bản cổ.

🎆 Nishi-nihon hōgen (西日本方言, phương ngữ Tây Nhật Bản), phương ngữ phía Tây Nhật Bản, gồm có Kyoto, Osaka, v.v.

🎆 Kyūshū hōgen (九州方言, phương ngữ Cửu Châu), gồm Nagasaki, Kumamoto, v.v.

🎆 Ryūkyū hōgen (琉球方言, phương ngữ Lưu Cầu), các đảo thuộc nhóm đảo Ryūkyū.

🎇 Ngày nay, tiếng Nhật chuẩn được dùng phổ biến trên cả nước (bao gồm nhiều phần của nhóm đảo Ryūkyū như Okinawa) do không chỉ truyền hình và radio, mà còn nhờ vào hệ thống đường sá, tàu lửa, và hàng không.

🎇 Những người trẻ tuổi thường nói được cả tiếng địa phương và ngôn ngữ chuẩn, mặc dù trong đa số trường hợp, tiếng địa phương chịu ảnh hưởng bởi tiếng chuẩn, và tiếng Nhật “tiêu chuẩn” ngược lại cũng bị ảnh hưởng bởi tiếng địa phương.

✨ Âm vị

🎈 Hệ thống âm vị

💧 Trong tiếng Nhật, ippon (一本, “1 cái”), viết theo chữ hiragana là 「いっぽん」, sẽ được đọc theo 4 đơn vị là 「い・っ・ぽ・ん」.

💧 Theo âm tiết, nghe như [ip.poɴ] với 2 âm tiết, nhưng nó không giống với cách nắm bắt theo âm vị.

💧 Cách chia những phần theo âm thanh học thì khác với âm tiết, theo âm vần luận thì mỗi đơn vị trong 「い・っ・ぽ・ん」 được gọi là mora (phách).

💧 Mora trong tiếng Nhật nói chung có thể hệ thống hoá dựa trên kana (仮名, bảng chữ tiếng Nhật). Ippon và mattaku 「まったく」 theo âm thanh học là [ippoɴ] và [mattakɯ] không có đơn âm nào chung, nhưng trong tiếng Nhật vẫn có một mora chung, đó là 「っ」.

💧 Ngoài ra, đối với 「ん」, theo âm thanh học thì tuỳ theo âm đi sau nó mà có thể được phát âm là [ɴ], [m], [n] hay [ŋ], nhưng những người nói tiếng Nhật đều có thể nhận ra âm giống nhau, do đó theo âm vần luận nó trở thành một loại mora.

💧 Trong tiếng Nhật, phần lớn mora đều kết thúc bằng nguyên âm. Do đó tiếng Nhật mang đặc tính mạnh của ngôn ngữ âm tiết mở. Mặc dù vậy, hai mora đặc biệt 「っ」 và 「ん」 không có nguyên âm.

💧 Về phân loại mora, có 111 kiểu mora như bảng dưới.

💧 Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, số lượng mora đang dần thay đổi.

💧 Đối với âm của hàng ga 「が」, ở vị trí giữa và cuối từ, nó biến thành âm mũi (còn gọi là âm kêu mũi) thuộc hàng 「か゜」, nhưng với những người trẻ tuổi thì sự phân biệt này đang mất dần. Do đó, nếu ta không đếm hàng 「か゜」, số lượng mora chỉ còn 103.

💧 Còn nếu tính luôn cả các âm mượn như 「ファ(fa)・フィ(fi)・フェ(fe)・フォ(fo)」「ティ(ti)・トゥ(tu)」「ディ(di)・ドゥ(du)」, con số này lại thay đổi lên đến 128 mora.

🔴 Âm đơn (nguyên âm)

🔵 あ い う え お

🔴 Âm đơn (phụ âm + nguyên âm) Âm đôi

🔵 か き く け こ きゃ きゅ きょ (âm điếc)

🔵 さ し す せ そ しゃ しゅ しょ (âm điếc)

🔵 た ち つ て と ちゃ ちゅ ちょ (âm điếc)

🔵 な に ぬ ね の にゃ にゅ にょ

🔵 は ひ ふ へ ほ ひゃ ひゅ ひょ (âm điếc)

🔵 ま み む め も みゃ みゅ みょ

🔵 ら り る れ ろ りゃ りゅ りょ

🔵 が ぎ ぐ げ ご ぎゃ ぎゅ ぎょ (âm kêu)

🔵 (か゜ き゜ く゜ け゜ こ゜) (き゜ゃ き゜ゅ き゜ょ) (âm kêu mũi)

🔵 ざ じ ず ぜ ぞ じゃ じゅ じょ (âm kêu)

🔵 だ で ど (âm kêu)

🔵 ば び ぶ べ ぼ びゃ びゅ びょ (âm kêu)

🔵 ぱ ぴ ぷ ぺ ぽ ぴゃ ぴゅ ぴょ (âm nửa kêu)

🔴 Âm đơn (bán phụ âm + nguyên âm)

🔵 や ゆ よ

🔵 わ

🔴 Mora đặc biệt

🔵 ん (âm gảy)

🔵 っ (phụ âm đôi)

🔵 ー (trường âm)

⚫ Hơn nữa, bảng chữ cái tiếng Nhật thường được sử dụng để giải thích cho hệ thống âm vị, nhưng thử so sánh với bảng mora tiếng Nhật ở trên, ta thấy có sự khác nhau đáng kể.

⚫ Đáng chú ý bảng chữ cái tiếng Nhật đã có từ thời kỳ Bình An (平安, “Heian”), do đó nó không phản ánh được hệ thống âm vị của ngôn ngữ hiện đại.

🔴 Hệ thống nguyên âm
Chart of Standard Japanese vowels
Chart of Standard Japanese vowels

⚫ Nguyên âm được thể hiện bằng các ký tự 「あ・い・う・え・お」. Theo âm vần luận, nguyên âm tiếng Nhật có 5 âm được thể hiện theo các ký tự trên, ký hiệu âm tố được viết là:

⚫ a/, /i/, /u/, /e/, /o/

⚫ Mặt khác, theo âm thanh học, năm nguyên âm cơ bản được phát âm gần với

⚫ [a] [i] [ɯ] [e] [o]

⚫ Chữ 「う」nghe (trợ giúp·chi tiết) giống như âm tròn môi [u] trong tiếng Việt và một số ngôn ngữ khác, đồng thời cũng là một nguyên âm không tròn môi, nhưng ở phía sau âm môi thì tiến đến âm tròn môi.

⚫ Theo âm vần luận, những chữ như kōhī 「コーヒー」 (cà phê) và hīhī 「ひいひい」 (tiếng rên), tồn tại một yếu tố gọi là trường âm biểu diễn bằng 「ー」 hay hàng a 「あ」 trong kana (ký hiệu âm tố là /R/).

⚫ Ở đây, tồn tại một mora độc đáo độc lập được phát âm bằng phương pháp gọi là “kéo dài nguyên âm trước đó thêm 1 mora”[20].

⚫ Giống như những từ tori (鳥, “chim”) và tōri (通り, con đường), việc có hay không có trường âm nhiều khi cũng khác nhau về ý nghĩa.

⚫ Tuy nhiên, theo âm thanh thì việc có một âm cụ thể được gọi là “trường âm” là không có, vì ở phần nửa sau của nguyên âm dài [aː] [iː] [ɯː] [eː] [oː] cũng chính là âm đó.

⚫ Đối với những chữ được viết là ei 「えい」, ou 「おう」 thì cách phát âm giống như ee 「ええ」 hay oo 「おお」 và nói chung đều được phiên âm thành các nguyên âm dài của [eː] và [oː] (những từ như kei 「けい」, kou 「こう」 v.v., trường hợp có phụ âm ở đầu hoàn toàn tương tự).

⚫ Nói cách khác, eisei (衛星, “vệ tinh”) outou (応答, “trả lời”) được đọc là 「エーセー」「オートー」.

⚫ Tuy nhiên, ở Kyuushuu và phía Tây Shikoku, phía nam Bán đảo Kii… thì ei 「えい」 phát âm thành [ei][21].

⚫ Phần cuối của các câu kết thúc bằng desu「です」 và masu「ます」, biến thành vô thanh và, có trường hợp nghe như [des] và [mas] (tuỳ thuộc vào từng phương ngữ và từng cá nhân).

Hơn nữa, trong trường hợp nguyên âm i 「い」, u 「う」 nằm giữa phụ âm vô thanh cũng biến thành vô thanh và thanh đới không rung.

⚫ Ví dụ như, Kikuchi trong Kikuchi Kan (菊池寛) và kuchikiki trong kuchikiki kōi (口利き行為, cử chỉ phát ngôn) phần nguyên âm thành nguyên âm vô thanh.

⚫ Nguyên âm đứng phía trước 「ん」 có xu hướng trở thành âm mũi. Ngoài ra, 「ん」 đứng phía trước nguyên âm thì trở thành nguyên âm mũi.

🔴 Hệ thống phụ âm

⚫ Phụ âm phân biệt theo âm vần luận, có các phụ âm thuộc các hàng 「か(ka)・さ(sa)・た(ta)・な(na)・は(ha)・ま(ma)・や(ya)・ら(ra)・わ(wa)」, phụ âm kêu thuộc các hàng 「が(ga)・ざ(za)・だ(da)・ば(ba)」, phụ âm nửa kêu thuộc hàng 「ぱ(pa)」 (về mora đặc biệt, xin tham khảo ở phần cuối phần này).

⚫ Ký hiệu âm tố như sau:

🔘 /k/, /s/, /t/, /h/ (âm điếc)

🔘 /g/, /z/, /d/, /b/ (âm kêu)

🔘 /p/ (âm nửa kêu)

🔘 /n/, /m/, /r/

🔘 /j/, /w/ (thường gọi là bán nguyên âm)

⚫ Mặt khác, theo âm thanh học, thì hệ thống phụ âm có rất nhiều khía cạnh phức tạp. Các phụ âm được dùng chủ yếu gồm có

Phụ âm
Phụ âm

⚫ Về cơ bản thì các âm hàng ka 「か」 phát âm là [k], hàng sa 「さ」 là [s] (hay [θ], tuỳ địa phương và người nói), hàng ta 「た」 là [t], hàng na 「な」 là [n], hàng ha 「は」 là [h], hàng ma 「ま」 là [m], hàng ya 「や」 là [j], hàng da 「だ」 là [d], hàng ba 「ば」 là [b], và cuối cùng là hàng pa 「ぱ」 phát âm là [p].

⚫ Phụ âm hàng ra 「ら」 khi đứng ở đầu từ thì phát âm như [d], thay vì phát âm như âm tắc nhẹ khó đọc.

⚫ Cũng có người phát âm gần giống như của tiếng Việt.

⚫ Không có ký hiệu âm thanh thích hợp nhưng cũng có khi được dùng thay thế bằng âm tắc uốn lưỡi kêu [ɖ].

⚫ Mặt khác, âm ra cùng với 「っ」 như 「あらっ?」, xuất hiện ở giữa hoặc cuối từ sẽ trở thành âm tắc lưỡi [ɾ] hoặc [ɽ].

⚫ Phụ âm hàng wa 「わ」 có người nói dùng cách phát âm tròn môi [w], nhưng đa số dùng âm không tròn môi [ɰ] (khi tách ra đọc từng âm thì tiếng Nhật lại đọc là [w]). Đối với các âm mượn 「ウィ(vi)」「ウェ(ve)」「ウォ(vo)」 cũng phát âm y hệt nhưng cũng có nhiều người phát âm là 「ウイ(ui)」「ウエ(ue)」「ウオ(uo)」.

⚫ Phụ âm hàng ga 「が」 khi xuất hiện ở đầu từ thì dùng [g], nhưng ở giữa từ thì phổ biến cách dùng [ŋ] (âm mũi hàng ga, gọi là âm kêu mũi). Ngày nay, việc dùng âm [ŋ] đang dần biến mất.

⚫ Phụ âm hàng za 「ざ」 khi đứng ở đầu từ và sau 「ん」 thì sử dụng âm tắc xát (âm của [ʣ] phối hợp âm tắc và âm xát) nhưng ở giữa từ thì thường sử dụng âm xát (như [z]).

⚫ Cũng có người luôn sử dụng âm tắc xát nhưng ví dụ như shujutsu (手術, “phẫu thuật”) sẽ rất khó và đa số sẽ dùng âm xát.

⚫ Ngoài ra, âm 「ぢ」 và 「づ」 của hàng da 「だ」, ngoại trừ một vài phương ngữ, luôn gây cho ta cảm giác đồng âm với 「じ」「ず」 của hàng za, phương pháp phát âm của chúng giống nhau.

⚫ Phụ âm theo sau nguyên âm i 「い」 cho ra âm sắc đặc biệt. Một vài phụ âm biến thành âm vòm, đầu lưỡi gần với vòm miệng cứng.

⚫ Ví dụ như, phụ âm của hàng ka 「か」 nói chung phát âm là [k] nhưng chỉ có ki 「き」 xảy ra hiện tượng như trên, và được phát âm là [kʲ].

⚫ Nếu sau các phụ âm vòm hoá thuộc cột i như trên là các nguyên âm a 「あ」 u 「う」 o 「お」 thì theo phép chính tả các chữ này sẽ biến thành 「ゃ」「ゅ」「ょ」 trong bảng kana và được viết như 「きゃ」「きゅ」「きょ」,「みゃ」「みゅ」「みょ」.

⚫ Nếu sau nó là nguyên âm 「エ」 thì viết thành 「ェ」 trong bảng kana ví dụ như 「キェ」, nhưng với những từ mượn thì không có áp dụng theo cách trên.

⚫ Phụ âm trên cột âm i 「い」 của các hàng sa 「さ」, za 「ざ」, ta 「た」, ha 「は」 cũng có âm sắc đặc biệt nhưng lúc này không phải chỉ vòm hoá, mà điểm điều âm đã di chuyển đến vòm cứng.

⚫ Phụ âm 「し」 và 「ち」 phát âm lần lượt là [ɕ] nghe (trợ giúp·chi tiết) và [ʨ] nghe (trợ giúp·chi tiết). Các phụ âm thuộc hàng tương ứng với các âm đó vẫn được phát âm bình thường.

⚫ Phụ âm của Âm mượn 「スィ(si)」 và 「ティ(ti)」 thì dùng âm vòm hoá [sʲ] và [tʲ].

⚫ Phụ âm 「じ」「ぢ」 đứng ở đầu từ cũng như sau 「ん」 thì dùng [ʥ], giữa từ thì dùng [ʑ].

⚫ Phụ âm của âm mượn 「ディ(di)」 và 「ズィ(zi)」 thì sử dụng là âm vòm hoá [dʲ] và [ʣʲ] hay [zʲ].

⚫ Phụ âm hi 「ひ」 nghe (trợ giúp·chi tiết)thì có âm vòm cứng [ç] chứ không đọc là [h].

⚫ Ngoài ra, phụ âm ni 「に」 được phát âm thành âm vòm hoá [nʲ] nhưng cũng có người sử dụng âm mũi vòm cứng [ɲ].

⚫ Tương tự như vậy, ri 「り」 nghe (trợ giúp·chi tiết) có người sử dụng âm tắc vòm cứng, 「ち」 thì lại cũng có người sử dụng âm chẻ vòm cứng vô thanh c.

⚫ Bên cạnh đó, hàng ha 「は」 thì chỉ có phụ âm fu 「ふ」 nghe (trợ giúp·chi tiết) sử dụng âm sát đôi môi vô thanh [ɸ] còn các phụ âm còn lại của hàng ha biến hoá từ [p] → [ɸ] → [h].

⚫ Với âm mượn thì có người sử dụng là [f]. Ngoài ra, ở hàng ta 「た」 thì chỉ có phụ âm tsu 「つ」 nghe (trợ giúp·chi tiết) dùng là [ʦ].

⚫ Các nguyên âm 「あ」「い」「え」「お」 theo sau những phụ âm này chủ yếu xuất hiện trong từ mượn, trở thành các chữ kana 「ァ」「ィ」「ェ」「ォ」 và viết thành 「ファ」「ツァ」 (「ツァ」 cũng dùng cho các trường hợp 「おとっつぁん」 hay 「ごっつぁん」). 「フィ」「ツィ」 thì xảy ra sự vòm hoá phụ âm. 「トゥ」「ドゥ」([tɯ], [dɯ]) có người cố gắng phát âm gần với âm mượn [t], [tu], [du].

⚫ Âm được gọi là phụ âm đôi 「っ」 (ký hiệu âm tố là /Q/) cũng như âm gảy 「ん」 (/N/), theo khái niệm của âm vần luận, là một mora đặc biệt giống như trường âm được đề cập ở trên.

⚫ Nói về âm thanh thực thì 「っ」 trở thành các phụ âm liên tục [-kk-], [-ss-], [-ɕɕ-], [-tt-], [-tʦ-], [-tʨ-], [-pp-]. Ngoài ra, 「ん」 thì tuỳ theo âm ở phía sau mà thành phụ âm [ɴ], [m], [n], [ŋ] (tuy nhiên, nếu ở phía trước nguyên âm thì thành nguyên âm mũi).

⚫ Ví dụ nếu ở cuối câu thì nhiều người dùng là [ɴ].

🍎 Ngữ pháp tiếng Nhật
🍏 Cấu trúc câu

🍓 Trật tự từ tiếng Nhật cơ bản là Chủ ngữ – Tân ngữ – Động từ. Sự liên kết Chủ ngữ, Tân ngữ hay các yếu tố ngữ pháp khác thường được đánh dấu bằng trợ từ joshi (助詞) hay teniwoha (てにをは) làm hậu tố cho các từ mà nó bổ nghĩa, do đó các trợ từ này được gọi là các hậu vị từ.

🍓 Cấu trúc câu cơ bản là chủ đề-bổ đề. Ví dụ, Kochira-wa Tanaka-san desu. (こちらは田中さんです) Kochira (“đây”) là chủ đề của câu, được chỉ ra bởi trợ từ -wa.

🍓 Động từ là desu, một hệ động từ, thường được dịch là “là” hoặc “nó là” (dù có nhiều động từ có thể dịch nghĩa “là”).

🍓 Cụm từ Tanaka-san desu là bổ đề. Câu này có thể dịch một cách đại khái là “Người này, (đó) là Ông/Bà/Cô Tanaka”.

🍓 Do đó tiếng Nhật, giống như tiếng Trung, tiếng Hàn, và nhiều thứ tiếng châu Á khác, thường được gọi là ngôn ngữ nổi bật chủ đề, điều này có nghĩa nó có một xu hướng biểu thị chủ đề tách biệt khỏi chủ ngữ và chúng không trùng khớp nhau.

🍓 Câu Zō-wa hana-ga nagai (desu) (象は鼻が長いです) tạm dịch thô là, “Còn về con voi, mũi (của nó) thì dài”. Chủ đề zō “con voi”, và chủ ngữ là hana “mũi”.

🍓 Tiếng Nhật là một ngôn ngữ lược bỏ đại từ, có nghĩa là chủ ngữ hay tân ngữ của một câu không cần phải được nêu ra nếu nó là hiển nhiên trong ngữ cảnh đó.

🍓 Ngoài ra, người ta thường cảm thấy, đặc biệt trong văn nói tiếng Nhật, câu càng ngắn càng hay.

🍓 Kết quả của sự dễ dãi và xu hướng giản lược của ngữ pháp là người nói tiếng Nhật có xu hướng loại bỏ các từ ra khỏi câu một cách tự nhiên chứ không dùng đại từ.

🍓 Trong ngữ cảnh của ví dụ trên, hana-ga nagai sẽ có nghĩa là “mũi [của chúng] thì dài,” còn nagai đứng một mình sẽ là “[chúng] thì dài”.

🍓 Một động từ đơn cũng có thể là một câu hoàn chỉnh: Yatta! “[Tôi / Chúng ta /Họ/ …vv] đã làm [điều đó]!”.

🍓 Ngoài ra, do các tính từ có thể tạo thành vị ngữ trong một câu tiếng Nhật, một tính từ đơn có thể là một câu hoàn chỉnh: Urayamashii! “[Tôi] ghen tị [về điều đó]!”.

🍓 Trong khi ngôn ngữ này có một số từ thường được dịch như đại từ, chúng lại không được dùng thường xuyên như các đại từ ở một vài ngôn ngữ Ấn-Âu, và có chức năng khác hẳn.

🍓 Thay cho đại từ, tiếng Nhật thường dựa trên các hình thức động từ và trợ động từ đặc biệt để chỉ ra đối tượng nhận hành động: “hướng vào” để chỉ nhóm ngoài làm lợi cho nhóm trong; và “hướng ra” để chỉ nhóm trong làm lợi cho nhóm ngoài.

🍓 Ở đây, những nhóm trong bao gồm người nói còn nhóm ngoài thì ngược lại, và ranh giới của chúng thì phụ thuộc vào ngữ cảnh.

🍓 Ví dụ, oshiete moratta (có nghĩa, “giải thích” với người được hưởng hành động là nhóm trong) nghĩa là “[ông ta/bà ta/họ] đã giải thích cho [tôi/chúng tôi]”.

🍓 Tương tự như thế, oshiete ageta (có nghĩa, “giải thích” với người được hưởng hành động là nhóm ngoài) nghĩa là “[Tôi/chúng tôi] đã giải thích [việc đó] cho [anh ta/cô ta/họ]”.

🍓 Do đó, những trợ động từ “có lợi” có chức năng tương tự với các đại từ và giới từ trong các ngôn ngữ Ấn-Âu để chỉ ra người thực hiện hành động và người tiếp nhận hành động.

🍓 “Giới từ” trong tiếng Nhật cũng có chức năng khác biệt với phần lớn các đại từ của các ngôn ngữ Ấn-Âu hiện đại (và giống với các danh từ hơn) ở chỗ chúng có thể có bổ từ như danh từ.

🍓 Ví dụ, chúng ta không thể nói như sau trong tiếng Anh:

🍇 The amazed he ran down the street. (không đúng ngữ pháp)

🍓 Nhưng ta có thể về cơ bản nói đúng ngữ pháp câu tương tự trong tiếng Nhật:

🍇 Odoroita kare-wa michi-o hashitte itta. (đúng ngữ pháp)

🍓 Điều này một phần là do các từ này tiến triển từ các danh từ thông thường, như kimi “cậu (tớ)” (từ 君 “quân”, “ngài”), anata “bạn, anh…” (từ あなた “phía đó, đằng kia”), và boku “Tôi, tao, tớ…” (từ 僕 “thị, bầy tôi”).

🍓 Đây là lý do tại sao các nhà ngôn ngữ học không xếp “đại từ” tiếng Nhật vào nhóm đại từ, mà phân vào danh từ tham chiếu. Những đại từ nhân xưng tiếng Nhật thường chỉ được dùng trong các tình huống yêu cầu nhấn mạnh đặc biệt như ai đang làm gì đối với ai.

🍓 Việc lựa chọn từ để sử dụng làm đại từ tương ứng với giới tính của người nói và tình huống xã hội khi đang nói chuyện: nam giới và nữ giới dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất giống nhau, thường gọi mình là watashi (私 “tư”) hay watakushi (cũng 私), còn nam giới trong các hội thoại suồng sã thường sử dụng từ ore (俺 “chính mình”, “chính tao”) hay boku nhiều hơn.

🍓 Tương tự, các từ khác như anata, kimi, và omae (お前, hay chính thức hơn là 御前 “ngự tiền, người trước tôi”) có thể được sử dụng nói đến người nghe tuỳ thuộc vào địa vị xã hội và mức độ thân mật giữa người nói với người nghe. Khi được sử dụng trong các mối quan hệ xã hội khác, cùng một từ đó có thể có các ý nghĩa tích cực (thân mật hoặc tôn kính) hoặc tiêu cực (không thân mật hoặc bất kính).

🍓 Người Nhật thường sử dụng tước vị của người được đề cập mà trong trường hợp đó tiếng Anh sẽ dùng các đại từ. Ví dụ, khi nói về thầy giáo của mình, gọi sensei (先生, “tiên sinh”) là cách dùng đúng, còn sử dụng anata là không thích hợp.

🍓 Điều này là do anata được sử dụng để đề cập những người có địa vị bằng hoặc thấp hơn, và thầy của mình thì có địa vị cao hơn.

🍓 Đối với nhiều người nói tiếng Anh, việc đưa watashi-wa hoặc anata-wa vào đầu câu tiếng Nhật là điều thường xảy ra.

🍓 Dù các câu này về mặt ngữ pháp là đúng nhưng chúng lại nghe có vẻ kỳ cục ngay cả trong hoàn cảnh chính thức.

🍓 Điều này gần tương tự với việc sử dụng lặp đi lặp lại một danh từ trong tiếng Anh, khi một đại từ đã là đủ: “John sắp đến, vì thế hãy đảm bảo là bạn chuẩn bị cho John một cái bánh sandwich vì John thích bánh sandwich. Mình hy vọng John thích cái váy mình đang mặc…”

🔴 Trọng âm

⚫ Trọng âm của tiếng Nhật chủ yếu là trọng âm không đều. Trọng âm được xác định theo từ.

⚫ Những trường hợp từ đồng âm có thể phân biệt nhờ sự khác nhau về trọng âm không ít.

⚫ Ví dụ như trong phương ngữ Tokyo, ame (雨, “mưa”) và ame (飴, “kẹo”) thì được đọc tương ứng là 「a\me」 (phần đầu đọc cao hơn) và 「a/me」 (kiểu âm bằng), được phát âm rõ ràng là khác nhau (từ lúc này trở đi, khi nói về âm thanh đi lên dùng /, âm bằng dùng \).

⚫ Những chữ đều được phiên âm là hashi o 「端を」 (góc đường), 「箸を」 (đôi đũa), 「橋を」 (cây cầu) thì đọc tương ứng là 「ha/shio」「ha\shio」「ha/shi\o」.

⚫ Sự lên xuống của trọng âm nếu nói theo âm nhạc thì giống với sự lên xuống của âm giai.

⚫ Nhiều nhà soạn nhạc trước đây, khi phổ nhạc cho thơ, đã dựa trên trọng âm của ngôn từ.

⚫ Ví dụ như, nhạc sĩ Kousaku Yamada đã phổ nhạc cho câu Karatachi no hana ga sai tayo (“hoa cam ba lá đã nở”) (phổ thơ 「からたちの花」 của Kitahara Hakushū) đã tận dụng lại trọng âm phát âm là 「ka/ratachi no ha/na\ga sa/itayo」.

⚫ Do đó, tránh cho ha/na\ga (花が, hoa) bị hiểu nhầm thành “lỗ mũi” 「鼻が」 (ha/naga).

⚫ Mặc dù như vậy, không phải lúc nào khác trọng âm cũng là khác nghĩa nhau. Như kyō’iku (教育, “giáo dục”) hay zaisei (財政, “tài chính”) giọng Tokyo đọc là 「kyo/ーiku」 và 「za/iseー (za/isei)」, nhưng theo các nhà chuyên môn cũng thường được đọc là 「kyo\ーiku」 và 「za\iseー」.

⚫ Ngoài ra, sự bằng hoá trọng âm dường như đang là xu hướng của thời đại, densha (電車, “xe điện”) và eiga (映画, “phim”) từ cách đọc 「de\nsha」 và 「e\ーga (e\iga)」 đang dần trở thành 「de/nsha」 và 「e/ーga」. Tuy nhiên, ý nghĩa các từ không hề thay đổi.

⚫ Hana ga (花が, “hoa (thì)”) ở Tokyo đọc là 「ha/na\ga」, ở Kyoto đọc là 「ha\naga」, cho nên trọng âm ở mỗi từ khác nhau tuỳ theo địa phương.
⚫ Tuy nhiên, hệ thống trọng âm các địa phương với nhau không hoàn toàn là không hề tương ứng với nhau.

⚫ Nhiều trường hợp có thể nhìn thấy sự đối ứng một cách có hệ thống.

⚫ Ví dụ như, hana ga (花が), yama ga (山が, “núi (thì)”) và ike ga (池が, “hồ (thì)”) theo giọng Tokyo là 「ha/na\ga」, 「ya/ma\ga」, 「i/ke\ga」, phát âm dạng lồi, còn ở Kyoto thì 「ha\naga」, 「ya\maga」 và 「i\kega」 phát âm dạng phần đầu là âm cao.

⚫ Theo đó, những từ nào ở địa phương này có cùng một kiểu trọng âm, thì ở địa phương khác, những từ đó cũng thuộc về cùng một kiểu trọng âm khác.

⚫ Sự thật là, trọng âm theo phương ngữ của Nhật Bản đều bắt nguồn từ một hệ thống ngôn ngữ có trọng âm hoàn toàn giống nhau trong quá khứ, nhưng sau đó dần dần tách ra và xuất hiện khác biệt.

⚫ Shirō Hattori gọi nó là trọng âm của tiếng Nhật nguyên thuỷ, nhưng vấn đề tiếng Nhật nguyên thuỷ cụ thể ra sao thì có nhiều quan điểm.

⚫ Ví dụ như Kazuharu Kindaichi[26] và Otsumura Kazuo thì cho rằng trọng âm theo kiểu Kinh Phản (Keihan) của thời kỳ Viện Chính (Insei) (giọng kiểu sao chép tên (meigite)) là hệ thống cổ của trọng âm tiếng Nhật và, hầu hết mọi trọng âm của các phương ngữ hiện tại là kết quả sinh ra từ sau thời đại Nam Bắc Triều.

⚫ Hệ thống trọng âm ở miền Đông và miền Tây nói chung là khác nhau, nhưng nếu đi vào cụ thể, sự phân bố trọng âm phức tạp hơn.

⚫ Ví dụ như, (quận) Aichi, Gifu, Nagano, Niigata về phía đông nói chung có giọng Tokyo, địa phương Kinki (khu vực xung quanh Osaka, Kyoto, Nara), Shikoku v.v. thì có giọng Keihan, xa về phía tây vùng Chūgoku, đến vùng Kyūshū, lại xuất hiện giọng Tokyo.

⚫ Nói cách khác, giọng Keihan đóng vai trò quan trọng trong khu vực Kinki lại có xen kiểu Tokyo.

⚫ Hơn nữa, một khu vực gồm một phần của vùng Kyūshū có kiểu trọng âm một hình thức được phát âm với trọng âm như nhau và khu vực từ phía Bắc Kantō (miền Đông) đến phía Nam Tōhoku (Đông Bắc), thì có thể nhận ra kiểu không có trọng âm, các âm đọc theo quy tắc không có âm cao.
⚫ Một lần nữa, tồn tại những hệ thống trung gian, khác biệt hoàn toàn với đa số các hệ thống khác.

⚫ Chi tiết, có các hệ thống trọng âm sau:

🔘 Trọng âm kiểu Keihan (Kinh Phản)

🔘 Trọng âm kiểu Tokyo

🔘 Trọng âm 2 hình thức

🔘 Trọng âm 1 hình thức

🔘 Không có trọng âm

🍎 Ngữ pháp tiếng Nhật
🍏 Cấu trúc câu

🍓 Trật tự từ tiếng Nhật cơ bản là Chủ ngữ – Tân ngữ – Động từ. Sự liên kết Chủ ngữ, Tân ngữ hay các yếu tố ngữ pháp khác thường được đánh dấu bằng trợ từ joshi (助詞) hay teniwoha (てにをは) làm hậu tố cho các từ mà nó bổ nghĩa, do đó các trợ từ này được gọi là các hậu vị từ.

🍓 Cấu trúc câu cơ bản là chủ đề-bổ đề. Ví dụ, Kochira-wa Tanaka-san desu. (こちらは田中さんです) Kochira (“đây”) là chủ đề của câu, được chỉ ra bởi trợ từ -wa.

🍓 Động từ là desu, một hệ động từ, thường được dịch là “là” hoặc “nó là” (dù có nhiều động từ có thể dịch nghĩa “là”).

🍓 Cụm từ Tanaka-san desu là bổ đề. Câu này có thể dịch một cách đại khái là “Người này, (đó) là Ông/Bà/Cô Tanaka”.

🍓 Do đó tiếng Nhật, giống như tiếng Trung, tiếng Hàn, và nhiều thứ tiếng châu Á khác, thường được gọi là ngôn ngữ nổi bật chủ đề, điều này có nghĩa nó có một xu hướng biểu thị chủ đề tách biệt khỏi chủ ngữ và chúng không trùng khớp nhau.

🍓 Câu Zō-wa hana-ga nagai (desu) (象は鼻が長いです) tạm dịch thô là, “Còn về con voi, mũi (của nó) thì dài”. Chủ đề zō “con voi”, và chủ ngữ là hana “mũi”.

🍓 Tiếng Nhật là một ngôn ngữ lược bỏ đại từ, có nghĩa là chủ ngữ hay tân ngữ của một câu không cần phải được nêu ra nếu nó là hiển nhiên trong ngữ cảnh đó.

🍓 Ngoài ra, người ta thường cảm thấy, đặc biệt trong văn nói tiếng Nhật, câu càng ngắn càng hay.

🍓 Kết quả của sự dễ dãi và xu hướng giản lược của ngữ pháp là người nói tiếng Nhật có xu hướng loại bỏ các từ ra khỏi câu một cách tự nhiên chứ không dùng đại từ.

🍓 Trong ngữ cảnh của ví dụ trên, hana-ga nagai sẽ có nghĩa là “mũi [của chúng] thì dài,” còn nagai đứng một mình sẽ là “[chúng] thì dài”.

🍓 Một động từ đơn cũng có thể là một câu hoàn chỉnh: Yatta! “[Tôi / Chúng ta /Họ/ …vv] đã làm [điều đó]!”.

🍓 Ngoài ra, do các tính từ có thể tạo thành vị ngữ trong một câu tiếng Nhật, một tính từ đơn có thể là một câu hoàn chỉnh: Urayamashii! “[Tôi] ghen tị [về điều đó]!”.

🍓 Trong khi ngôn ngữ này có một số từ thường được dịch như đại từ, chúng lại không được dùng thường xuyên như các đại từ ở một vài ngôn ngữ Ấn-Âu, và có chức năng khác hẳn.

🍓 Thay cho đại từ, tiếng Nhật thường dựa trên các hình thức động từ và trợ động từ đặc biệt để chỉ ra đối tượng nhận hành động: “hướng vào” để chỉ nhóm ngoài làm lợi cho nhóm trong; và “hướng ra” để chỉ nhóm trong làm lợi cho nhóm ngoài.

🍓 Ở đây, những nhóm trong bao gồm người nói còn nhóm ngoài thì ngược lại, và ranh giới của chúng thì phụ thuộc vào ngữ cảnh.

🍓 Ví dụ, oshiete moratta (có nghĩa, “giải thích” với người được hưởng hành động là nhóm trong) nghĩa là “[ông ta/bà ta/họ] đã giải thích cho [tôi/chúng tôi]”.

🍓 Tương tự như thế, oshiete ageta (có nghĩa, “giải thích” với người được hưởng hành động là nhóm ngoài) nghĩa là “[Tôi/chúng tôi] đã giải thích [việc đó] cho [anh ta/cô ta/họ]”.

🍓 Do đó, những trợ động từ “có lợi” có chức năng tương tự với các đại từ và giới từ trong các ngôn ngữ Ấn-Âu để chỉ ra người thực hiện hành động và người tiếp nhận hành động.

🍓 “Giới từ” trong tiếng Nhật cũng có chức năng khác biệt với phần lớn các đại từ của các ngôn ngữ Ấn-Âu hiện đại (và giống với các danh từ hơn) ở chỗ chúng có thể có bổ từ như danh từ.

🍓 Ví dụ, chúng ta không thể nói như sau trong tiếng Anh:

🍇 The amazed he ran down the street. (không đúng ngữ pháp)

🍓 Nhưng ta có thể về cơ bản nói đúng ngữ pháp câu tương tự trong tiếng Nhật:

🍇 Odoroita kare-wa michi-o hashitte itta. (đúng ngữ pháp)

🍓 Điều này một phần là do các từ này tiến triển từ các danh từ thông thường, như kimi “cậu (tớ)” (từ 君 “quân”, “ngài”), anata “bạn, anh…” (từ あなた “phía đó, đằng kia”), và boku “Tôi, tao, tớ…” (từ 僕 “thị, bầy tôi”).

🍓 Đây là lý do tại sao các nhà ngôn ngữ học không xếp “đại từ” tiếng Nhật vào nhóm đại từ, mà phân vào danh từ tham chiếu. Những đại từ nhân xưng tiếng Nhật thường chỉ được dùng trong các tình huống yêu cầu nhấn mạnh đặc biệt như ai đang làm gì đối với ai.

🍓 Việc lựa chọn từ để sử dụng làm đại từ tương ứng với giới tính của người nói và tình huống xã hội khi đang nói chuyện: nam giới và nữ giới dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất giống nhau, thường gọi mình là watashi (私 “tư”) hay watakushi (cũng 私), còn nam giới trong các hội thoại suồng sã thường sử dụng từ ore (俺 “chính mình”, “chính tao”) hay boku nhiều hơn.

🍓 Tương tự, các từ khác như anata, kimi, và omae (お前, hay chính thức hơn là 御前 “ngự tiền, người trước tôi”) có thể được sử dụng nói đến người nghe tuỳ thuộc vào địa vị xã hội và mức độ thân mật giữa người nói với người nghe. Khi được sử dụng trong các mối quan hệ xã hội khác, cùng một từ đó có thể có các ý nghĩa tích cực (thân mật hoặc tôn kính) hoặc tiêu cực (không thân mật hoặc bất kính).

🍓 Người Nhật thường sử dụng tước vị của người được đề cập mà trong trường hợp đó tiếng Anh sẽ dùng các đại từ. Ví dụ, khi nói về thầy giáo của mình, gọi sensei (先生, “tiên sinh”) là cách dùng đúng, còn sử dụng anata là không thích hợp.

🍓 Điều này là do anata được sử dụng để đề cập những người có địa vị bằng hoặc thấp hơn, và thầy của mình thì có địa vị cao hơn.

🍓 Đối với nhiều người nói tiếng Anh, việc đưa watashi-wa hoặc anata-wa vào đầu câu tiếng Nhật là điều thường xảy ra.

🍓 Dù các câu này về mặt ngữ pháp là đúng nhưng chúng lại nghe có vẻ kỳ cục ngay cả trong hoàn cảnh chính thức.

🍓 Điều này gần tương tự với việc sử dụng lặp đi lặp lại một danh từ trong tiếng Anh, khi một đại từ đã là đủ: “John sắp đến, vì thế hãy đảm bảo là bạn chuẩn bị cho John một cái bánh sandwich vì John thích bánh sandwich. Mình hy vọng John thích cái váy mình đang mặc…”

🍏 Biến tố và chia động từ

🍓 Tiếng Nhật không có số nhiều số ít hay giống.

🍓 Danh từ hon (本) có thể là một hay nhiều quyển sách; hito (人) có thể có nghĩa “một người” hay “nhiều người”; và ki (木) có thể là “một cây” hay “những cây”.

🍓 Nếu số lượng là quan trọng thì nó có thể được chỉ rõ bằng cách thêm số lượng (thường bằng một từ đếm) hoặc (hiếm khi) bằng cách bổ sung một hậu tố.

🍓 Những từ dùng cho người thường được hiểu là số ít. Do đó Tanaka-san thường có nghĩa Ông/Bà/Cô Tanaka. Có thể tạo ra các từ nhắc đến nhiều người và nhiều con bằng cách thêm một hậu tố tập hợp để chỉ một nhóm các cá nhân (một hậu tố danh từ dùng để chỉ một nhóm), như -tachi, nhưng đây không phải là một số nhiều thực sự: nghĩa của nó thì gần giống “và người/vật đi cùng”.

🍓 Một nhóm được miêu tả là Tanaka-san-tachi có thể bao gồm những người không có tên là Tanaka. Vài danh từ tiếng Nhật trên thực tế là số nhiều, như hitobito “những người” và wareware “chúng tôi”, còn từ tomodachi “bạn bè” thì được xem là số ít dù có hình thức số nhiều.

🍓 Động từ được chia để thể hiện thì, có hai thì: quá khứ và hiện tại, hay phi-quá khứ được dùng để chỉ cả hiện tại lẫn tương lai.

🍓 Đối với các động từ miêu tả một quá trình đang xảy ra, hình thức -te iru chỉ thì tiếp diễn.

🍓 Đối với các động từ khác miêu tả sự thay đổi trạng thái, hình thức -te iru chỉ một thì hoàn thành. Ví dụ kite iru có nghĩa “Anh ta đã đến (và vẫn đang ở đây)”, nhưng tabete iru có nghĩa “Anh ta đang ăn”.

🍓 Câu hỏi (cả với một đại từ nghi vấn và câu hỏi có/không) có cấu trúc như các câu khẳng định nhưng ngữ điệu lên giọng ở cuối câu.

🍓 Trong cách nói chính quy, trợ từ nghi vấn -ka được thêm vào.

🍓 Ví dụ, Ii desu “tốt” trở thành Ii desu-ka “có tốt không?”.

🍓 Trong lối diễn đạt thân mật, đôi khi trợ từ -no được thêm vào thay vì “ka” để biểu thị một sự quan tâm cá nhân của người nói: Dōshite konai-no? “Sao (mày) lại không đến?”.

🍓 Một vài câu hỏi được tạo ra chỉ đơn giản bằng cách đề cập chủ đề với một ngữ điệu nghi vấn để tạo ra sự chú ý của người nghe: Kore-wa? “(Thế còn) điều này?”; Namae-wa? “Tên (của bạn là gì)?”.

🍓 Thể phủ định được tạo bằng cách biến cách động từ. Ví dụ, Pan-o taberu “Tôi sẽ ăn bánh mỳ” hoặc “Tôi ăn bánh mỳ” trở thành Pan-o tabenai “Tôi sẽ không ăn bánh mỳ” hoặc “Tôi không ăn bánh mỳ”.

🍓 Hình thức động từ dạng -te được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau: hoặc là tiếp diễn hoặc là hoàn thành (xem ở trên); các động từ kết hợp theo thứ tự thời gian (Asagohan-o tabete sugu dekakeru “Tôi sẽ ăn bữa sáng và ra đi ngay”), các mệnh lệnh đơn giản, bày tỏ điều kiện và sự cho phép (Dekakete-mo ii? “Tôi ra ngoài được không?”), v.v.

🍓 Từ da (suồng sã), desu (lịch sự) là hệ động từ.

🍓 Nó gần tương tự với từ là, thì, ở trong tiếng Anh nhưng thường có vai trò khác nữa, đó là một từ đánh dấu thì khi động từ được chia ở thì quá khứ datta (suồng sã), deshita (lịch sự).

🍓 Điều này được sử dụng bởi vì chỉ có hình dung từ và động từ là có thể mang thì trong tiếng Nhật.

🍓 Hai động từ thông dụng khác được sử dụng để chỉ tình trạng hay thuộc tính, trong một vài ngữ cảnh: aru (phủ định là nai) đối với những vật vô tri giác và iru (phủ định là inai) cho những đồ vật có tri giác. Ví dụ, Neko ga iru “Có một con mèo”, Ii kangae-ga nai “[Tôi] không có một ý tưởng hay”.

Động từ “làm” (suru, dạng lịch sự shimasu) thường được sử dụng để tạo ra danh động từ (ryōri suru “nấu ăn”, benkyō suru “học hành”, vv.) và tỏ ra hữu ích trong việc tạo ra các từ lóng hiện đại.

🍓 Tiếng Nhật cũng có một số lượng lớn các động từ phức để diễn đạt các khái niệm mà tiếng Anh dùng động từ và giới từ để diễn đạt (ví dụ tobidasu “bay đi, chạy trốn,” từ tobu “bay, nhảy” + dasu “đuổi ra, thoát ra”).

🍓 Có ba kiểu tính từ (xem thêm tính từ tiếng Nhật):

1️⃣ 形容詞 keiyōshi (hình dung từ), hay các tính từ đuôi i (kết thúc bằng i) (như atsui, “nóng”) có thể biến đổi sang thì quá khứ (atsukatta – “nó đã nóng”), hay phủ định (atsuku nai – “[nó] không nóng”). Lưu ý rằng nai cũng là một tính từ đuôi i, có thể trở thành quá khứ (atsuku nakatta – [nó] đã không nóng).

2️⃣ 暑い日 atsui hi “một ngày nóng”.
形容動詞 keiyōdōshi (hình dung động từ), hay các tính từ đuôi na, được theo sau bởi một dạng hệ động từ, thường là na. Ví dụ hen (lạ)
変なひと hen na hito “một người lạ”.

3️⃣ 連体詞 rentaishi (liên thể từ), cũng gọi là các tính từ thực, như ano “kia”
あの山 ano yama “núi kia”.
Cả keiyōshi và keiyōdōshi có thể làm vị ngữ cho câu. Ví dụ,

ご飯が熱い。 Gohan-ga atsui. “Cơm nóng.”
彼は変だ。Kare-wa hen da. “Ông ta lạ.”

🍓 Cả hai biến cách, dù chúng không chỉ ra tất cả các cách chia, đều có thể tìm thấy trong các động từ thực. Rentaishi trong tiếng Nhật hiện đại rất ít và không giống như những từ khác, chúng bị giới hạn trong các danh từ bổ nghĩa trực tiếp.

🍓 Chúng không bao giờ làm vị ngữ cho câu. Các đơn cử bao gồm ookina “lớn”, kono “này”, iwayuru “cái gọi là” và taishita “làm kinh ngạc”.

🍓 Cả keiyōdōshi và keiyōshi đều có thể trở thành các phó từ, bằng cách cho ni theo sau trong trường hợp keiyōdōshi:

変になる hen ni naru “trở nên lạ”,

và bằng cách đổi i sang ku trong trường hợp keiyōshi:

熱くなる atsuku naru “trở nên nóng”.

🍓 Chức năng ngữ pháp của các danh từ được chỉ ra bời các hậu vị từ, còn được gọi là trợ từ. Các ví dụ là:

🍈 が ga cho chủ cách. Không nhất thiết là một chủ ngữ.

Kare ga yatta. “Anh ta đã làm điều đó.”

🍈 に ni cho tặng cách.

田中さんに聞いて下さい。 Tanaka-san ni kiite kudasai “Làm ơn hỏi Ông Tanaka.”

🍈 ‘の no đối với sở hữu cách, hay các cụm chuyển hoá danh từ.

私のカメラ。 watashi no kamera “camera của tôi”

スキーに行くのが好きです。 Sukī-ni iku no ga suki desu “(tôi) thích đi trượt tuyết.”

🍈 を o đối với đổi cách. Không nhất thiết là một tân ngữ.

何を食べますか。 Nani o tabemasu ka? “(bạn) sẽ ăn gì?”

🍈 は wa đối với chủ đề. Nó có thể cùng tồn tại với các trợ từ đánh dấu cách như trên ngoại trừ no, và nó quan trọng hơn ga và o.

私はタイ料理がいいです。 Watashi wa tai-ryōri ga ii desu. “Đối với tôi, đồ ăn Thái thì ngon.” Trợ từ chỉ định ga sau watashi được giấu bên dưới wa.

🍓 Lưu ý: Sự khác biệt giữa wa và ga nằm ngoài sự khác biệt trong tiếng Anh giữa chủ đề và chủ ngữ câu.

🍓 Trong khi wa chỉ chủ đề và phần còn lại của câu mô tả hoặc hành động theo chủ đề đó, nó mang ngụ ý rằng chủ ngữ được chỉ định bởi wa không phải duy nhất, hoặc có thể là một phần của một nhóm lớn hơn.

🍓 Ikeda-san wa yonjū-ni sai da. “Ông Ikeda 42 tuổi.” Những người khác trong nhóm có thể cũng cùng tuổi.

🍓 Sự thiếu wa thường có nghĩa chủ ngữ là tiêu điểm của câu.

🍓 Ikeda-san ga yonjū-ni sai da. “Chính ông Ikeda là người 42 tuổi.” Đây là một câu trả lời một câu hỏi ngầm hoặc hỏi thẳng ai trong nhóm này là người 42 tuổi.

🌳 Kính ngữ

🌼 Không giống như phần lớn các ngôn ngữ phương Tây nhưng giống nhiều ngôn ngữ phương Đông, tiếng Nhật có một hệ thống ngữ pháp để diễn tả sự tôn kính và sự trang trọng.

🌼 Do phần lớn các mối quan hệ trong xã hội Nhật Bản là không ngang hàng, nên một người nào đó thường có một địa vị cao hơn người kia.

🌼 Địa vị này được quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau bao gồm: công việc, tuổi tác, kinh nghiệm hay thậm chí tình trạng tâm lý (ví dụ một người nhờ người khác giúp thì thường có xu hướng làm điều đó một cách lịch sự).

🌼 Người có địa vị thấp hơn thường phải dùng kính ngữ còn người khác có thể dùng lối nói suồng sã.

🌼 Người lạ cũng phải hỏi người khác một cách lịch sự. Trẻ con Nhật Bản hiếm khi sử dụng kính ngữ cho đến khi chúng đến tuổi thanh thiếu niên, tuổi mà chúng phải nói theo cách của người lớn.

🌼 Trong khi teineigo (丁寧語) (đinh ninh ngữ) thường là một hệ thống biến tố, sonkeigo (尊敬語) (tôn kính ngữ) và kenjōgo (謙譲語) (khiêm nhường ngữ) thường sử dụng nhiều động từ kính ngữ và khiêm nhường ngữ đặc biệt: kuru “đến” trở thành kimasu trong đinh ninh ngữ, nhưng được thay thế bằng irassharu trong kính ngữ và mairu trong khiêm nhường ngữ.

🌼 Sự khác biệt giữa lối nói đinh ninh ngữ và kính ngữ được phát âm khác nhau trong tiếng Nhật.

🌼 Khiêm nhường ngữ thường được sử dụng để nói về chính mình hoặc nhóm của mình (người cùng đi, gia đình) trong khi kính ngữ chủ yếu được sử dụng khi miêu tả người đối thoại và nhóm của anh ta/cô ta. Ví dụ, hậu tố -san (“Ông” “Bà.” hay “Cô”) là một ví dụ về kính ngữ.

🌼 Nó không được dùng để nói về chính mình hoặc nói về người nào đó trong công ty mình với một người ngoài do người cùng công ty với mình thuộc trong nhóm của người nói.

🌼 Khi nói trực tiếp với người trên của mình trong nhóm của mình hoặc khi nói với người làm thuê trong công ty về một người cấp trên, một người Nhật sẽ sử dụng từ vựng và biến tố của kính ngữ để đề cập đến người đó. Khi nói với một người ở công ty khác (ví dụ một thành viên của một nhóm ngoài), thì người Nhật sẽ dùng lối văn suồng sã hoặc khiêm nhường ngữ để đề cập đến lời nói và hành động của những người cấp trên trong nhóm của mình.

🌼 Tóm lại, từ ngữ sử dụng trong tiếng Nhật đề cập đến người, lời nói hoặc hành động của từng cá nhân cụ thể sẽ thay đổi theo mối quan hệ (trong nhóm hoặc ngoài nhóm) giữa người nói và người nghe, cũng như phụ thuộc vào tình trạng quan hệ giữa người nói, người nghe và người thứ ba được đề cập.

🌼 Vì lý do này, hệ thống tiếng Nhật đối với sự biểu thị từ ngữ xã hội được gọi là một hệ thống “kính ngữ tương đối.

🌼 ” Điều này khác với hệ thống tiếng Hàn thuộc “kính ngữ tuyệt đối,” mà trong đó từ ngữ như nhau được sử dụng để đề cập đến các nhân vật nói riêng (ví dụ như bố mình, một người chủ tịch công ty mình…) trong bất kỳ ngữ cảnh nào bất kể mối quan hệ giữa người nói và người đối thoại.

🌼 Do đó, lối nói lịch sự của tiếng Triều Tiên có thể nghe rất táo bạo khi dịch đúng nguyên văn từng chữ một sang tiếng Nhật, do trong tiếng Hàn là điều bình thường và chấp nhận được khi nói những câu như “Ông giám đốc Công ty chúng tôi…” khi nói với một thành viên bên ngoài nhóm, mà điều này thì rất không phù hợp trong ngữ cảnh xã hội Nhật Bản.

🌼 Phần lớn các danh từ trong tiếng Nhật có thể trở thành thể lịch sự bằng cách thêm o- hoặc go- làm tiền tố. o- thường được dùng cho các từ có nguồn gốc tiếng Nhật Bản ngữ còn go- được đưa vào tiền tố các từ có gốc Hán.

🌼 Trong một số trường hợp, tiền tố đã trở thành một phần cố định của từ và được dùng kể cả trong lối nói thông thường như gohan “cơm; đồ ăn.” Các tạo từ như thế thường chỉ phụ thuộc vào chủ của đồ vật hoặc chính chủ ngữ.

🌼 Ví dụ, từ tomodachi ‘bạn bè,’ sẽ trở thành o-tomodachi khi đề cập đến bạn của ai đó có địa vị cao hơn (dù các bà mẹ thường dùng hình thức này để chỉ các bạn bè của con mình).

🌼 Mặt khác, một người nói lịch sự có thể thỉnh thoảng đề cập đến mizu “nước” là o-mizu nhằm biểu thị thái độ lịch sự.

🌼 Phần lớn người Nhật sử dụng lối nói lịch sự để biểu thị sự thiếu thân mật.

🌼 Điều đó có nghĩa rằng họ sử dụng lối lịch sự đối với những người mới quen nhưng nếu mối quan hệ trở nên thân mật, họ sẽ không sử dụng lối nói lịch sự này nữa. Điều này xảy ra bất kể tuổi tác, địa vị xã hôi hay giới tính.

🌹 Hệ thống từ vựng

🌷 Hệ thống từ vựng Nhật Bản khá phong phú, đa dạng. Trong Daijiten (Đại từ điển) do Nhà xuất bản Heibon xuất bản có khoảng 70 vạn từ. Từ điển Kokugo jiten (Quốc ngữ từ điển) của Nhà xuất bản Iwanami có 5 vạn 7 ngàn từ.

🌻 Đại từ nhân xưng

🍊 Sự đa dạng của từ vựng mô tả con người trong tiếng Nhật thì rất đáng chú ý.

🍊 Ví dụ như, ở mục watashi (わたし, “tôi”) của Đại từ điển đồng âm[28] liệt kê 「わたし(watashi)・わたくし(watakushi)・あたし(atashi)・あたくし(atakushi)・あたい(atai)・わし(washi)・わい(wai)・わて(wate)・我が輩(wagahai)・僕(boku)・おれ(ore)・おれ様(oresama)・おいら(oira)・わっし(wasshi)・こちとら(kochitora)・自分(jibun)・てまえ(temae)・小生(shousei)・それがし(soregashi)・拙者(sessha)・おら(ora)」, mục từ anata (あなた, “bạn”) thì có 「あなた(anata)・あんた(anta)・きみ(kimi)・おまえ(omae)・おめえ(omee)・おまえさん(omaesan)・てめえ(temee)・貴様(kisama)・おのれ(onore)・われ(ware)・お宅(otaku)・なんじ(anji)・おぬし(onushi)・その方(sonokata)・貴君(kikun)・貴兄(kikei)・貴下(kika)・足下(sokka)・貴公(kikou)・貴女(kijo)・貴殿(kiden)・貴方(kihou)」.

🍊 Sự thật ở trên là, nếu như so sánh với việc hầu như chỉ có “I” và “you” để chỉ đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai trong tiếng Anh hiện đại, hay đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất của tiếng Pháp là “je”, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai là “tu” “vous”, có thể thấy được sự khác biệt.

🍊 Mặc dù vậy, thậm chí trong tiếng Nhật, nếu xét đến đại từ nhân xưng cần thiết, thì ngôi thứ nhất chỉ cần wa(re) hay a(re), và ngôi thứ hai là na(re). Những từ được dùng với vai trò đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và thứ hai ngày nay phần lớn là sự thay đổi từ danh từ chung[29].

🍊 Hơn nữa, từ quan điểm thể hiện sự kính trọng, đối với cấp trên thì việc sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ hai có xu hướng lược bỏ.

🍊 Ví dụ, thay vì hỏi anata wa nanji ni dekakemasuka (“mấy giờ ngài đi”), thông thường sẽ được nói nanji ni irasshaimasuka.

🌻 Phân loại từ vựng

🌵 Nếu phân chia theo nguồn gốc sinh ra từ vựng tiếng Nhật, ta có được nhiều nhóm bao gồm wago (和語, “hoà ngữ”), kango (漢語, “hán ngữ”), gairaigo (外来語, “ngoại lai ngữ”), cũng như một loại từ vựng pha trộn các kiểu trên với nhau gọi là konshugo (混種語, “hỗn chủng ngữ”). Cách phân loại của từ theo nguồn gốc như vậy gọi là goshu (語種, “ngữ chủng”).

🌵Hoà ngữ là bộ từ vựng Yamato (大和言葉, “Đại Hoà ngôn diệp – từ vựng Đại Hoà”) có từ xưa của Nhật Bản, Hán ngữ (từ Hán) là những từ vựng sử dụng âm Hán tự du nhập từ Trung Quốc, Ngoại lai ngữ (từ nước ngoài) là từ vựng được du nhập từ các ngôn ngữ khác ngoài Trung Quốc.

🌵Mặc dù vậy, từ ume (ウメ, “mận”), ví dụ, có khả năng là từ mượn từ tiếng Trung Quốc nguyên thuỷ nên không phải Hoà ngữ, cho thấy biên giới của Ngữ chủng đến nay vẫn chưa rõ ràng.

🌵Hoà ngữ chiếm một phần hạt nhân của từ vựng tiếng Nhật. Những từ vựng cơ sở như kore (これ, “cái này”), sore (それ, “cái kia”, kyō (きょう, “hôm nay”), asu (あす, “ngày mai”), watashi (わたし, “tôi”), anata (あなた, “bạn” ngôi thứ hai), iku (行く, “đi”), kuru (来る, “đến”), yoi (良い, “tốt”), warui (悪い, “xấu”) hầu hết là Hoà ngữ.

🌵Ngoài ra, các trợ từ như te「て」, ni「に」, wo 「を」, wa 「は」 và đại bộ phận trợ động từ và các từ phụ thuộc cần thiết để tạo thành câu đều là Hoà ngữ.

🌵Mặt khác, Hán ngữ và Ngoại lai ngữ được dùng nhiều để biểu thị khái niệm trừu tượng và khái niệm mới sinh ra từ sự phát triển của xã hội.

🌵Cũng có những tên sự vật nguyên thuỷ là Hoà ngữ thì đã chuyển sang Hán ngữ và Ngoại lai ngữ.

🌵Meshi (めし, “bữa ăn” hay “cơm”) chuyển thành gohan (御飯) hay raisu (ライス); yadoya (やどや, “nhà nghỉ”) thành ryokan (旅館) hay hoteru (ホテル) là những ví dụ tiêu biểu cho sự thay đổi này.

🌵Đối với những từ đồng nghĩa nhưng thay đổi Ngữ chủng như vậy, có một sự khác biệt nhỏ về ý nghĩa – sắc thái, cụ thể là Hoà ngữ thì tạo ấn tượng đơn giản, suồng sã, Hán ngữ thường tạo ra ấn tượng chính thức, lễ nghi, còn Ngoại lai ngữ thì mang ấn tượng hiện đại.

🌵Một cách tổng quát, có thể nói nghĩa của Hoà ngữ thì rộng, còn nghĩa của Hán ngữ thì hẹp.

🌵Một ví dụ, chỉ có một từ Hoà ngữ là shizumu (しづむ) hay shizumeru (しずめる) có nghĩa là “kìm nén”, tương ứng với nhiều thành phần từ ghép của hán ngữ như 「沈」「鎮」「静」.

🌵Ý nghĩa đa dạng về cách hiểu của shizumu chỉ có thể phân biệt được khi viết xuống sử dụng Hán tự, và có thể là một trong các chữ 「沈む」「鎮む」「静む」.

🌵Ý nghĩa biểu thị của Hán ngữ được ghép lại từ hơn hai chữ có tính phân tích, tức là nghĩa của nó có thể suy đoán từ nghĩa của từng từ.

🌵Ví dụ, chữ jaku (弱, “nhược”) khi ghép với các chữ sei (脆, “thuý”, “dễ vỡ”), hin (貧, “bần”, “nghèo”), nan (軟, “nhuyễn”, “mềm, ủ rũ”), haku (薄, “bạc”, “ốm yếu”), tạo thành từ vựng có tính phân tích – giải thích như zeijaku (脆弱, “dễ vỡ”), hinjaku (貧弱, “nghèo”, “xơ xác”), nanjaku (軟弱, “ốm yếu”), hakujaku (薄弱, “yếu đuối”)[31].

🌵Hán ngữ, với những từ như gakumon (学問, “học vấn”), sekai (世界, “thế giới), hakasei (博士, “bác sĩ”), là những từ vựng được du nhập từ Trung Quốc trước đây, chiếm đại bộ phận từ vựng tiếng Nhật, nhưng từ xa xưa đã có nhiều từ Hán ngữ do người Nhật tạo ra (waseikango, 和製漢語, “Hoà chế Hán ngữ”).

🌵Ngay cả ngôn ngữ hiện đại như kokuritsu (国立, “kiều bào”), kaisatsu (改札, “soát vé”), chakuseki (着席, “chỗ ngồi”), kyoshiki (挙式, “tổ chức buổi lễ”) hay sokutō (即答, “trả lời ngay”) cũng dùng nhiều Hoà chế Hán ngữ[32].

🌵Ngoại lai ngữ ngoài những từ đang được sử dụng với ý nghĩa gốc của nó, thì trong tiếng Nhật, việc có sự thay đổi ý nghĩa gốc của từ là không ít. “Claim” trong tiếng Anh có nghĩa là “đòi hỏi quyền lợi tự nhiên”, còn trong tiếng Nhật kurēmu 「クレーム」 mang nghĩa là “than phiền”. Tiếng Anh, “lunch” có nghĩa là “bữa ăn trưa”, thì ranchi 「ランチ」 trong nghĩa tiếng Nhật khi nhắc đến ăn uống thì có nghĩa là một kiểu ăn (“tiệc trưa”).

🌵Sự kết hợp các Ngoại lai ngữ như aisu kyandē 「アイスキャンデー」 (“ice” + “candy”, “kem cây”) hay saido mirā 「サイドミラー」 (“side” + “mirror”, “kính chắn gió”), tēburu supīchi 「テーブルスピーチ」 (“table” + “speech”, “cuộc chuyện trò sau bữa ăn tối”) được sáng tạo ra từ nghĩa gốc tiếng Nhật.
🌵Ngoài ra, cũng có sự sáng tạo những từ mà dạng từ liên quan không hề là từ nước ngoài như naitā 「ナイター」 (“trò chơi dưới ánh đèn”, chuyển tự nighter), panerā 「パネラー」 (“người trả lời trong các chương trình trò chơi dạng hỏi đáp trên ti vi”, chuyển tự paneler), purezentētā 「プレゼンテーター」 (“người diễn thuyết”, chuyển tự presentator).

🌵Thuật ngữ chung để gọi dạng từ này là waseiyōgo (和製洋語, “tiếng Nhật tạo ra từ thành phần tiếng nước ngoài”), nếu từ tiếng Anh thì đặc biệt gọi là waseieigo (和製英語, “tiếng Nhật tạo ra từ thành phần tiếng Anh”).

🖋️ Hệ thống chữ viết

🖊️ Tiếng Nhật hiện đại sử dụng phổ biến Hán tự (kanji) – hiragana (平仮名) – katakana (片仮名), và được viết dựa trên Hán tự thông dụng – Chính tả kana hiện đại.

🖊️ Số Ả rập và chữ Roma (Romaji – ký tự latinh) cũng được sử dụng khi cần thiết.

🖊️ Về cách đọc của Hán tự thì có cách đọc theo kiểu Trung Quốc (onyomi) và, cũng có cách đọc theo chữ Yamato (kunyomi), tuỳ theo thói quen mà sử dụng cách đọc nào là hợp lý.

🖊️ Không có phép chính tả chính xác một cách chặt chẽ và những tranh luận về việc có nên quy định một phép chính tả chính xác cùng với sự phản đối nó dần dần không còn được nhắc đến nữa.

🖊️ Hệ thống kana được phát triển để mô tả từ vựng ở vị trí trung tâm văn hoá.

🖊️ Do đó, kana luôn luôn phù hợp để viết ra hệ thống âm vị của phương ngữ khác.

🖌️ Phân loại chữ viết

🖍️ Hiragana – Katakana thì, hiện nay có 46 chữ được sử dụng

🖍️ Trong số này, có chữ kana biểu thị âm kêu và âm nửa kêu bằng cách gắn 「゛」 (dấu âm kêu) và 「゜」 (dấu âm nửa kêu) (tham khảo phần Âm vị).
🖍️ Nguyên âm đôi được biểu thị đi kèm với 「ゃ」「ゅ」「ょ」 viết bằng chữ nhỏ và, phụ âm đôi được viết bằng chữ 「っ」 viết nhỏ.

🖍️ Còn những chữ như 「つぁ」「ファ」, có âm đọc được thể hiện đi kèm với 「ぁ」「ぃ」「ぅ」「ぇ」「ぉ」 chữ nhỏ.

🖍️ Theo cách viết kana cổ, khác với ở trên, tồn tại những chữ như 「ゐ」「ゑ」 trong Hiragana và 「ヰ」「ヱ」 trong Katakana. Cũng có 「ー」 để biểu thị trường âm như ký hiệu bổ trợ.

🖍️ Hán tự có 1945 chữ Hán tự thông dụng, trong đó 1006 chữ được quy định là Hán tự được dạy cho học sinh phổ thông nhưng tại nơi công cộng thì, ngoại trừ Hán tự dùng cho tên người, có khoảng 2000 đến 3000 chữ Hán đang được sử dụng.

🖍️ Với bảng Chữ thông dụng của Hán ngữ hiện đại của Trung Quốc có 2500 chữ thông dụng và 1000 chữ gọi là Chữ thông dụng kế tiếp, do đó có thể nói rằng không có khoảng cách giữa số Hán tự được sử dụng thường xuyên hàng ngày của tiếng Nhật và tiếng Trung.

🖍️ Ở trong câu nói chung, ngoài việc viết pha trộn các Hán tự – Hiragana – Katakana như ở trên, Romaji – Số Ả Rập cũng được sử dụng cùng lúc khi cần thiết.

🖍️ Một cách cơ bản, đa số dùng Hán tự cho Hán ngữ, với phần biểu thị khái niệm chung của Hoà ngữ (như danh từ và gốc từ biến cách) thì dùng Hán tự, với yếu tố hình thức (như trợ từ – trợ động từ) và một phần của phó từ – từ nối thì dùng hiragana, Ngoại lai ngữ (trừ Hán ngữ) thì sử dụng katakana.

🖍️ Theo tài liệu chính thức thì cũng có trường hợp quy định chữ viết cụ thể, người dân bình thường cũng dùng theo theo cách đó.

🖍️ Tuy nhiên, không có phép chính tả chính xác chặt chẽ và sự linh động về chữ viết đang được chấp nhận rộng rãi.

🖍️ Tuỳ theo loại văn chương và mục đích mà có các cách viết sau:

🍊 さくらのはながさく/サクラの花が咲く/桜の花が咲く

🍊 sakura no hana ga saku (“Hoa anh đào nở”)

🖍️ Lợi ích của việc viết trộn lẫn hệ thống chữ viết một cách đa dạng là ở chỗ từng khối từ được nắm bắt dễ dàng và rất có lợi để đọc nhanh.

🖍️ Từ đồng âm dị nghĩa bắt nguồn từ cấu tạo âm tiết đơn thuần của tiếng Nhật được phân biệt bằng Hán tự, số chữ có được cũng được rút ngắn, đó cũng là một lợi ích.

🖍️ Theo lịch sử, đã từng có chủ trương huỷ bỏ Hán tự cũng như Quốc tự hoá (kana hoá) Rōmaji nhưng không thể thực hiện rộng rãi.

🖍️ Ngày nay kiểu viết trộn lẫn Hán tự – Hiragana – Katakana đang được thừa nhận rộng rãi như kiểu chữ viết chuẩn.

🖌️ Phương ngữ và chữ viết

🖍️ Hệ thống chữ viết của tiếng Nhật đã phát triển để cho cách viết thống nhất nhưng không phải lúc nào cũng thích hợp để diễn tả âm vị của phương ngữ. Ví dụ, ở khu vực Tūhoku (Đông Bắc) thì việc phát âm theo chữ kaki (柿, “quả hồng vàng”) đọc là [kagɨ], kagi (鍵, “chìa khoá”) đọc là [kãŋɨ], nhưng viết hai chữ này bằng kana thông thường sẽ là thì sẽ không phân biệt được (theo từ điển trọng âm nếu viết theo cách tương tự với chính tả sử dụng, sẽ trở thành 「カギ」 và 「カンキ゜」).

🖍️ Dù vậy, phương ngữ ít sử dụng ngôn ngữ viết, do đó trên thực tế ít gặp phải sự bất tiện.

🖍️ Nói về phương ngữ Kesen tỉnh Iwate (tiếng Kesen), theo Harutsugu Yamaura, đã có những thử nghiệm về phép chính tả đúng dựa trên hình thức ngữ pháp[39]. Nhưng đó chỉ là những thử nghiệm mang tính học thuật chứ không được sử dụng thực tế.

🖍️ Hệ thống chữ viết của tiếng Ryūkyū đang được dùng cũng tương ứng với cách dùng của tiếng Nhật.

🖍️ Ví dụ, bài thơ tensago no hana của Ruka (còn được viết là てぃんさぐぬ花) theo cách viết truyền thống sẽ được viết như sau

🖍️ てんさごの花や 爪先に染めて 親の寄せごとや 肝に染めれ[40]

🖍️ Theo cách viết này thì, ví dụ, hai loại nguyên âm (u và ʔu) của tiếng Ryūkyū không có cách viết tương ứng. Nếu viết theo ngữ âm, có chỗ viết giống như [tiɴʃagunu hanaja ʦimiʣaʧiɲi sumiti, ʔujanu juʃigutuja ʧimuɲi sumiri].

🖍️ Mặt chữ của cách viết Hán tự có những chữ riêng biệt chỉ tồn tại ở một số địa phương.

🖍️ Ví dụ, chữ 「杁」 trong một địa danh của thành phố Nagoya Irinaka 「杁中」, đó là “văn tự khu vực” của địa phương chỉ có ở Nagoya.

🖍️ Ngoài ra, 「垰」 được đọc với chữ kana là tao hay tawa, cũng là một chữ khác chỉ có ở vùng Chūgoku.

🖌️ Kiểu viết

📝 Tiếng Nhật có 2 kiểu viết: viết dọc – “tategaki” (縦書き) và viết ngang – “yokogaki” (横書き). Kiểu viết dọc tategaki là kiểu viết truyền thống theo chữ Hán, viết và đọc từ trên xuống, hàng tính từ phải sang trái.

📝 Kiểu viết này cũng được dùng trong tiếng Trung và tiếng Hàn, trong truyện đọc, truyện tranh, thư từ (ví dụ điển hình nhất cho kiểu viết dọc tategaki trong đời sống hiện nay là tất cả các bộ truyện tranh Nhật Bản hiện đang phát hành có bản quyền ở Việt Nam đều phải đọc từ phải sang trái, nguyên nhân do các tác giả Nhật Bản đều sử dụng kiểu tategaki khi vẽ và viết lời thoại).

📝 Tiếng Việt đã bỏ chữ Hán-Nôm nên cũng bỏ luôn kiểu đọc viết này (Ở Việt Nam chỉ có thể thấy kiểu viết này ở các di tích lịch sử phong kiến, ví dụ như Bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám).

📝 Kiểu viết ngang yokogaki theo giống chữ Latin, viết và đọc từ trái sang phải, hàng tính từ trên xuống dưới, thường dùng trong văn bản hành chính.
📝 Ví dụ như viết từ “Nhật Bản ngữ – Nihongo” ở dưới:

⭕ “yokogaki” (横書き): 日本語にほんご

⭕ “tategaki” (縦書き):日本語にほんご

🍀 Các cách học tiếng Nhật được yêu thích

1. Học qua video

Với sự phát triển của mạng Ineternet và tầm nhìn xa, rộng của ông lớn Google, Youtube đã trở thành một kho tài liệu học tập khổng lồ các bạn có thể tận dụng cho việc học tiếng Nhật tại nhà của mình một cách miễn phí.

Chỉ cần vào youtube.com: Gõ từ khóa “tự học tiếng Nhật” hay “tiếng Nhật”, “tự học tiếng Nhật tại nhà” là trang youtube sẽ ngay lập tức hiện ra hàng trăm, thậm chí hàng nghìn video dạy tiếng Nhật cả về giao tiếp, văn hóa cũng như ngữ pháp, từ vựng,…

Học tiếng Nhật qua Youtube
Học tiếng Nhật qua Youtube
Ưu điểm của cách học này:

Cách tự học tiếng Nhật tại nhà này thường chỉ phù hợp với người học có độ tự giác cao, học nghe là chính

Nhược điểm

Thường kiến thức sẽ không được hệ thống bạn phải mất nhiều thời gian để tìm kiếm, phân loại và lưu trữ.

Bạn chỉ có thê sử dụng kênh này để hỗ trợ cho việc học và nó chỉ là một kênh học tập bên cạnh những kênh học tập hữu ích khác.

2. Học tiếng Nhật theo giáo trình

Tiếng Nhật nằm trong top 10 ngôn ngữ phổ biến trên thế giới, nên lượng tài liệu giấy truyền thống để học tiếng Nhật cũng khá là phong phú và cũng chẳng khó để bạn có thể download ebook ngay trên internet, mua tại các nhà sách hoặc mua online qua Tiki, Fahasa, Amazon…

Học tiếng Nhật theo giáo trình
Học tiếng Nhật theo giáo trình

Bộ giáo trình nổi tiếng và phổ biến nhất là giáo trình Minna no Nihongo. Giáo trình này thì khá đầy đủ và chi tiết vè từ vựng cũng như ngữ pháp.

Bạn nên kết hợp học nhiều giáo trình cùng lúc vì các giáo trình đều có cùng hệ thống từ vựng và ngữ pháp.

Học theo đa dạng nhiều quyển, gặp đi gặp lại một hiện tượng ngữ pháp hay một từ vựng sẽ giúp bạn ghi nhớ được nó một cách tự nhiên và lâu hơn, đồng thời cũng giúp bạn đỡ nhàm chán trong quá trình học.

Cách học này chỉ dành cho các bạn thực sự có quyết tâm học tiếng Nhật tại nhà vì nó đòi hỏi tính tự giác khá cao, và lượng kiến thức trong sách cũng khá là nặng mà hoàn toàn bạn phải tự đọc tự nghiên cứu nên cũng cần đầu tư thời gian nhiều cho việc học.

Học theo sách không thể giúp bạn phát triển kỹ năng nghe và phản xạ với kiến thức, đây là nhược điểm lớn nhất của cách học này. Không có người theo sát và hướng dẫn, bạn có thể dễ dàng bỏ cuộc từ những bài học đầu tiên.

3. Học tiếng nhật online.

Hiện nay các trang web học tiếng Nhật online cũng như các ứng dụng trên smartphone có thể giúp bạn tự học tiếng Nhật tại nhà một cách hiệu quả hơn.

Các bạn hãy tìm các trang web này, học thử và chọn cho mình một trang web có chất lượng và một app mà khiến bạn có hứng thú học.

Chi phí cho các khóa học dạy tiếng nhật online này thì thường khá thấp và thời gian thì khá linh động cho các bạn.

Một số web lại đưa ra lộ trình học khá hợp lý với phương pháp học trực quan, sinh động giúp bạn định hướng được ngay các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn mà không bị “khủng hoảng tinh thần” khi thấy có quá nhiều thứ phải học, không biết bắt đầu từ đâu.

App trên điện thoại thì giúp bạn có thể tranh thủ học mọi lúc mọi nơi.

Rất hữu ích cho việc học từ vựng đấy.

Nếu bạn có trình độ tiếng Anh tốt, bạn có thể học qua một số phần mềm như About Japanese và E-japanese

Hoặc các bạn có thể học tiếng Nhật online với gia sư tiếng Nhật, hình thức học này là sự cải tiến của hình thức học gia sư tại nhà theo kiểu truyền thống. Đặc biệt dành cho các bạn ở các tỉnh thành xa hoặc đang công tác hoặc học tập ở nước ngoài đều có thể học được. Giáo viên sẽ soạn tài liệu, dạy, sửa phát âm, ngữ pháp trực tiếp trong buổi học cho các bạn

Gia sư tiếng Nhật online
Gia sư tiếng Nhật online
🇯🇵 Nước Nhật tươi đẹp

🍀 Nước nhật đẹp nhất là hoa anh đào hồng rất mịnh và trắng như mây trong mùa xuân đầy.

🍀 Là núi Phú Sĩ quanh năm Kiêu Hãnh cao và rãi tràn Tuyết.

🍀 Là Okinawa xanh ngắt biển, ấm Nắng Vàng và dịu dàng giống với cát.

🍀 Là Hokkaido bạt ngàn hoa của những cánh đồng thơm đến mê mẩn.

🍀 Là những suối nước nóng khắp đất nước Núi lửa đã ngâm người xuống là vạn sự mệt mỏi biến tan theo bọt.

🍀 Là Kyoto cổ kính và trữ tình mùa phong đỏ lá, là Osaka đêm náo nhiệt rực rỡ đèn, và Tokyo ngày đông đúc sầm uất phố…

💓 Văn hóa xin lỗi và cảm ơn của người Nhật

💖 Nhiều người không hiểu tại sao người Nhật lại xin lỗi và cảm ơn nhiều đến thế, đấy có phải là một câu cửa miện không?

💖 Không, trong mội hoàn cảnh đều có ý nghĩa riêng.

💖 Như việc người Nhật lại nói xin lỗi trước khi vào thang máy và cảm ơn sau khi ra khỏi thang máy.

💖 Vì những người vào thang máy sau nói lời xin lỗi người vào thang máy trước vì đã khiến họ phải đợi dù chỉ là một giây.

💖 Rồi cảm ơn khi ra khỏi thang máy vì đã được “cho vào” và làm phiền mọi người phải đợi để đi chung rồi tiếp tục làm phiền người vào trước ra sau phải giữ nút mở thang máy.

💖 Ở trong toilet công cộng Nếu nhiều nhau đi trước, cũng xin lỗi và cảm ơn ơn cha rất nhiều.

💖 Nhưng không phải xin lỗi ở đây vì sai điều gì hay cảm ơn vì nợ ân huệ.

💖 Xin lỗi và cảm ơn vì là một người lịch sự và có tự trọng. Vậy thôi

👩‍👦 Giáo dục cho trẻ con ở Nhật

🌱 Mùa đông trẻ con phải mặc quần đùi đi học, rửa tay bằng thứ nước xả từ vòi lạnh buốt xương.

🌱 Cha mẹ sốt con đầu gối sưng đỏ hay lạnh tay dễ ốm thì cô giáo xe thản nhiên trả lời:

“Anh muốn con anh thích nghi với thời tiết và khỏe mạnh thì cứ để kệ các cháu. vì chúng sẽ sẽ phải tự sinh ra đủ đề kháng để lớn lên.”

🌱 Không có khái niệm em cha mẹ lái xe xe chở con đi học và ôm ấp thôn hít cưng nựng.

🌱 Các bé hoặc đi bộ, hoặc đi xe buýt của trường, nếu cha mẹ chở phải thả con cách trường ít nhất 500 để con tự đi bộ.

🌱 Có thế mới giáo dục được cho những đứa trẻ không biết bố mẹ mẹ nhau làm nghề gì, đi xe gì, hoàn cảnh gia đình ra sao để hòa đồng sống và học cách đối xử với nhau bình đẳng, công bằng.

🌱 Ai nói người Nhật giả tạo là không phải phải, người Nhật còn thật đến nỗi đôi khi thiệt cho mình và thật một cách ngờ nghệch.

🌱 Ai bảo họ giả tạo, có khi vì thô lỗ quen rồi nên thấy sự lịch sự không quen nổi.

🌱 Giả tạo hay nhẫn nhịn vì lịch sự và muốn giữ thể diện cho đối phương – ranh giới thật dễ lẫn lộn.

🇯🇵 GIA SƯ TIẾNG NHẬT
5 (100%) 5 votes

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*