4 bài văn mẫu Phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày

5/5 - (1 bình chọn)

Đề bài: Phân tích truyện Nhưng nó phải bằng hai mày

Dàn ý mẫu

I. Mở bài

– Giới thiệu khát quát về đặc trưng truyện cười.

– Khái quát nội dung và ý nghĩa của truyện cười “Nhưng nó phải bằng hai mày”: Truyện đã kể sự việc xử kiện lạ lùng của một tên lí trưởng. Với yếu tố gây cười độc đáo cùng những tình huống kịch tính, truyện phê phán thói ăn bẩn của kẻ quyền thế.

II. Thân bài

1. Trước khi lên công đường

– Thầy Lí được giới thiệu nổi tiếng xử kiện giỏi.

– Cải đút 5 đồng, Ngô đút 10 đồng. Thầy Lí nhận tiền của cả hai người.

→ Tiếng cười được cất lên từ sự mâu thuẫn trong cách giới thiệu nhân vật. Viên quan ăn của đút lại được mệnh danh nổi tiếng trên công đường.

→ Tạo sự hứng thú, tò mò của người đọc theo giõi cách xử kiện của lí trưởng.

2. Tình huống xử kiện diễn ra trên công đường.

– Công đường: Là nơi trang nghiêm, nơi những vị quan phụ mẫu sẽ xét xử theo công lí và pháp luật.

– Lí trưởng ngay lập tức tuyên phạt: “Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi”.

→ Lí trưởng đi ngược lại quy trình xử án trên công đường: không cần điều tra, không cần phần tích mà lập tức kết án. Kết quả xử kiện của thầy Lí căn cứ vào số tiền mà Cải và Ngô đút lót, ai đút nhiều hơn sẽ thắng.

– Cải phản ứng: Xòe năm ngón tay và bẩm “Lẽ phải về con mà”

→ Cử chỉ, lời nói của Cải cho thấy thái độ ngạc nhiên, bất ngờ cũng đầy ẩn ý: Năm ngón tay = năm đồng =lẽ phải. Tiếng cười bật ra từ lời nói và hành động ấy.

→ Phê phán hành động đút lót của cho quan trên rồi tự biến mình thành nạn nhân và thủ phạm cho bi kịch. Cải đã mất tiền còn bị phạt. Tiếng cười chua chát cất lên.

– Cử chỉ của thầy Lí: Xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay phải và nói “Tao biết mày phải nhưng nó phải bằng hai mày”

→ Tiếng cười cất bật ra từ hành động và lời nói của thầy Lí. Câu nói có sử dụng hình thức chơi chữ: Chữ “phải” thứ nhất là lẽ phải, chữ “phải” thứ hai là nói đến tiền

→ Phơi bầy và phê phán bản chất tham lam trơ trẽn, trắng trợn của thầy Lí. Đồng tiền có sức mạnh vạn năng đổi trắng thay đen, đồng tiền chính là lẽ phải, chúng che mắt những tên tham quan, làm mờ công lí.

3. Ý nghĩa của câu chuyện

– Phê phán hiện thực xã hội với nạn tham nhũng trong xử kiện

– Phê phán, đả kích những tên tham quan, vô nhân tính, bị đồng tiền làm mờ mắt.

– Đưa ra bài học cho người dân: Đừng biến bản thân thành nạn nhân và thủ phạm của thói tham nhũng.

4. Nghệ thuật

– Cách tạo tình huống gây cười khéo léo, bất ngờ

– Miêu tả ngôn ngữ và hành động của nhân vật vừa gây cười vừa ẩn ý

– Sử dụng cách chơi chữ

– Lối kể chuyện tự nhiên, dễ hiểu.

III. Kết bài

– Khái quát nội dung và nghệ thuật của truyện

– Mở rộng: Mô-típ tiếng cười nơi công đường trong truyện cười rất phong phú và đặc sắc, bằng tiếng cười chúng đều có sức mạnh tố cáo, lên án gay gắt như: Ông huyện thanh liêm, quan đấy…

Bài văn mẫu 1

    Nhưng nó bằng hai mày là truyện cười với lượng tình tiết ít ỏi, tác phẩm như một màn kịch ngắn, mỗi chi tiết đều giàu giá trị biểu đạt. Tác phẩm phê phán những kẻ cầm cán cân công lí như lại nhập nhằng, đổi trắng thay đen, đây là một hiện tượng phổ biến trong xã hội.

    Mở đầu tác phẩm là lời giới thiệu về một viên quan xử kiện rất giỏi ở một làng nọ. Và thầy phải xử lí vụ kiện của Cải và Ngô. Việc Cải và Ngô đánh nhau được kể hết sức ngắn gọn: Cải với Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải sợ kém thế, lót trước cho thầy lí năm đồng. Ngô biện chè lá những mười đồng. Tình huống đó ngay lập tức đã đặt ra câu hỏi ông thầy lí sẽ xử lí vụ việc này thế nào cho thỏa đáng. Tình huống đã tăng thêm sức hấp dẫn, sự cuốn hút với người đọc.

    Thầy lí xử kiện cho Ngô thắng, còn Cải bị đánh mười roi. Lúc này Cải vô cùng bất ngờ, vì vốn anh ta đã lo lót trước với thầy lí, tự bản thân luôn nghĩ phần thắng chắc chắn về mình, anh ta lâm vào thế bị động trước lời phán xét của thầy lí. Sự việc bất ngờ đó thể hiện ở hành động của Cải: Cải vội xòe năm ngón tay, ngẩng mặt nhìn thấy lí khẽ bẩm: Xin xét lại. Lẽ phải về con mà. Ở đây Cải ngụ ý nhắc về số tiền đã lo lót trước đó, đề xuất xử lại để phù hợp với số tiền mình đã đưa. Đáp lại hành động đó của Cải, thầy lí cũng đưa ra hành động vô cùng kì quặc, đầy tính ám hiệu: Xòe năm ngón tay trái úp lên trên năm ngón tay mặt. Tao biết mày phải nhưng nó phải bằng hai mày. Với ngụ ý Ngô đưa nhiều tiền đút lót hơn và Ngô phải là người thắng. Bằng lời nói công khai và hành động trước công đường: Lời phát ngôn của nhân vật được công khai cho tất cả mọi người cùng nghe và ai cũng hiểu. Còn mật ngữ hành động (xòe bàn tay) thì chỉ có hai người là Cải và ông lí mới có thể hiểu. Giữa ngón tay – tiền – lẽ phải có mối quan hệ mật thiết với nhau. Công lí không được đong đếm bằng sự thật nữa mà được đo bằng số tiền mỗi người bỏ ra đút lót. Theo cái lí của thầy thì lẽ phải tương đương với tiền, được đo bằng tiền. Giá trị tố cáo, ý nghĩa sâu xa của tác phẩm chính là ở chỗ đó.

    Như vậy, cả ba nhân vật đều mang đến tiếng cười cho bạn đọc. Lí trưởng là đối tượng bị đả kích, còn Ngô và Cải là bị phê phán vì thói đút lót. Ngô và Cải tuy là nạn nhân nhưng chính họ là kẻ đã tiếp tay cho việc làm thay đổi công lí của lí trưởng.

    Tác phẩm có kết cấu ngắn gọn, rõ ràng, chặt chẽ. Cái cười được ẩn kín, khiến cho câu chuyện trở nên giàu kịch hơn. Tính cách của nhân vật, đặc biệt là lí trưởng được ẩn kín đến cuối tác phẩm, tăng thêm tính bất ngờ cho tác phẩm. Sự kết hợp giữa hành động và ngôn ngữ, cùng lối chơi chữ đã tạo tiếng cười cho tác phẩm.

    Tác phẩm lên tiếng phê phán quan lại tham ô nhận hối lộ xử án không nghiêm minh. Phê phán tầng lớp thống trị trong xã hội đương thời, từ đó phê phán xã hội thối nát đương thời. Phê phán người nông dân ấu trĩ với hành vi đút lót, tiêu cực đã tiếp tay cho bọn tham quan. Họ không chỉ là nạn nhân mà còn là tội nhân trong xã hội. Họ không chỉ đáng thương mà còn rất đáng trách.

Bài văn mẫu 2

    Kho tàng truyện cười Việt Nam cực kì phong phú về đề tài, được chia làm hai loại là truyện khôi hài và truyện trào phúng. Truyện khôi hài chủ yếu nhằm mục đích giải trí là chính, tuy vậy nó vẫn có ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng. Truyện trào phúng có mục đích đả kích, phê phán, đối tượng phần lớn là các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã hội phong kiến xưa kia. Cũng có khá nhiều truyện cười phê phán thói hư tật xấu thường thấy trong cuộc sống. Nhưng nó phải bàng hai mày và Tam đại con gà là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán đám quan lại tham nhũng và những thầy đồ dốt nát.

    Cốt truyện đơn giản : Hai người hàng xóm đánh nhau rồi mang nhau đi kiện. Tuy vậy, truyện được xây dựng thành một màn hài kịch hoàn hảo với hai yếu tố then chốt dẫn tới sự hình thành và phát triển mâu thuẫn. Đó là lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi và hai đương sự Ngô, Cải, ai cũng muốn giành phần thắng nên đều đút lót cho lí trưởng.

    Mâu thuẫn bắt đầu phát sinh khi lí trưởng đột ngột tuyên bố đánh phạt Cải mười roi. Buồn cười ở chỗ là hai nhân vật một bên thì chủ động, còn bên kia hoàn toàn bị động. Một bên cứ kết án, một bên xin xét lại. Động tác và lời nói của hai người hoàn toàn trái ngược nhau. Màn kịch khép lại bằng câu kết luận chắc nịch của lí trưởng: Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải… bằng hai mày. Lời nói ấy đã vạch trần thủ đoạn của viên lí trưởng mà dân gian đã chỉ ra bằng câu thành ngữ : đòn xóc hai đầu.

    Lí trưởng là người đứng đầu trông coi việc hành chính trong làng. Viên lí trưởng trong truyện nổi tiếng xử kiện giỏi. Song cái tiếng tăm ấy lại hoàn toàn đối lập với thực chất bên trong. Ngô và Cải đều phải lo đút lót trước cho lí trưởng. Sự công bằng, lẽ phải – trái, không có ý nghĩa gì ở chốn công đường Khi lí trưởng xử kiện..Lẽ phải ở đây thuộc về kẻ nhiều tiền, nhiều lễ vật lo lót. Đồng tiền đã ngự trị chốn công đường, bất chấp công lí. Đúng là: Nén bạc đâm toạc tờ giấy và Cải, Ngô là các nhân vật bi hài, vừa đáng trách, đáng cười, vừa đáng thương.

    Thủ pháp trào lộng của truyện được thể hiện bằng những cử chỉ, hành động, lời nói gây cười của các nhân vật.

    Cử chỉ, hành động của các nhân vật trong truyện này giống như cử chỉ và hành động của các nhân vật trong kịch câm, chứa đựng nhiều ý nghĩa. Khi bị lí trưởng ra lệnh đánh đòn, Cải vội xòe năm ngón tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí, khẽ bẩm. Cử chỉ ấy như muốn nhắc khéo lí trưởng về số tiền mà cải đã lo lót trước và anh ta trông đợi sự “nhớ ra” của lí trưởng về lời cam kết rằng lẽ phải sẽ thuộc về mình. Thầy lí cũng xòe nầm ngón tay trái úp lên trên năm ngón tay mặt, cử chỉ ấy ngầm thông báo với Cải rằng “lẽ phải” của thằng Ngô nhiều gấp đôi, nên đương nhiên phần thắng sẽ thuộc về hắn.

    Lẽ phải (trừu tượng) được tính bằng năm ngón tay (cụ thể), hai lần lẽ phải được tính bằng mười ngón tay. Điều thú vị mà tác giả dân gian dành cho người đọc là: ngón tay của Cải trở thành ‘‘kí hiệu” của tiền tệ và hai bàn tay úp vào nhau của quân cũng là “kí hiệu” biểu thị cho lượng tiền đút lót của Ngô.

    Truyện còn dùng hình thức chơi chữ để gây cười. Từ phải trong truyện này đa nghĩa. Nghĩa thứ nhất chỉ lẽ phải, chỉ cái đúng, người đúng, đối lập với cái sai, người sai. Nghĩa thứ hai chỉ điều bắt buộc, nhất thiết phải có, tức là mức tiền lo lót. Lời lí trưởng: Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải… bằng hai mày lập lờ cả hai nghĩa ấy. Không phải ngẫu nhiên, vế thứ hai trong lời thầy lí lại được dùng để đặt tên cho truyện này.

    Ở đây, ta thấy ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ động tác thống nhất với nhau, có giá trị ngang nhau. Ngồn ngữ bằng lời nói là ngôn ngữ công khai, nói cho tất cả những người có mặt cùng nghe. Ngôn ngữ bằng động tác là thứ ngôn ngữ “bí mật”, chỉ có người trong cuộc (thầy lí và Cải) mới hiểu được.

    Hai thứ ngôn ngữ ấy làm rõ nghĩa cho nhau để chỉ ra thực chất của sự nổi tiếng xử kiện giỏi của viên lí trưởng nọ.

    Truyện rất ngắn, kết thúc bất ngờ nhưng nó nói đủ những điều muốn nói và tiếng cười vừa giòn giã, thâm thúy cũng đồng loạt cất lên.

Bài văn mẫu 3

    Đây là một câu truyện cười nhưng lại cười ra nước mắt. Một xã hội đồng tiền mà lấn áp tất cả. Vì tiền mà con người ta không còn sự công bằng văn minh nữa. Người nào có quyền có thế thì người đó thắng. Thật là một xã hội chó đểu nhà văn( Vũ Trọng Phụng).

    Truyện cười “Nhưng nó phải bằng hai mày” nó giống như một màn kịch rất ngắn nhưng hấp dẫn với sự xuất hiện của ba nhân vật.

    Mở đầu truyện là lời giới thiệu về một viên lí trưởng xử kiện giỏi ở một “làng kia”. Ta gặp cách giới thiệu phiếm chỉ giống như các câu truyện cổ tích. Địa điểm (làng kia), thời gian (hôm nọ). Tác giả dùng tính phiếm chỉ để tăng tính khái quát, ý nghĩa mà truyện phản ánh mang tính phổ biến ở nhiều vùng , nhiều đối tượng chứ không ở địa phương nào. Tên Cải và Ngô cũng là một cách nói thực chất không mang tính xác định.

    Sự việc được kể rất ngắn gọn. Cải và Ngô đánh nhau rồi mang nhau ra kiện. Cải sợ kém thế lót trước thời lí năm đồng. Ngô biện chè lá những mười đồng. Lần theo câu truyện chúng ta đã tìm thấy tình huống có vấn đề, buộc người nghe phải chú ý xem trong tình huống nà thì một thầy lí nổi tiếng xử kiện giỏi sẽ xử vụ kiện này như thế nào?

    Khi xử kiện thầy lí cho Ngô thắng, còn Cải bị đánh mười roi. Cải đã lo lót thầy trước và được thầy nhận lễ nên Cải rất bất ngờ lâm vào tình thế bị động trước lời phán xét của thầy lí. Sự bất ngờ ấy được thể hiện : ” Cải vội xòe năm ngón tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí khẽ bẩm: xin thầy xét lại lẽ phải về con mà”. Lời nói của Cải chứng tỏ Cải tin vào mình sẽ được xử thắng vì mình đã lo chạy trước và được thầy nhận lễ đáng nhẽ là phần thắng thuộc về mình nhưng nó lại ngược lại. Lẽ phải ở đây dược xem xét bằng tiền. Cải đã đưa ra một ám hiệu là năm ngón tay, đưa mắt nhìn và lời nhắc khẽ để nhắc nhở thầy lí về hành động biện lễ của mình.

    Đến đây mâu thẫn đã lên đến cao trào Bởi Cải dường như đã lật bài ngựa. Nếu như vậy thì thầy lí sẽ xử ra sao? Thật bất ngờ đáp lại hành động kì quặc của Cải là hành động cũng kì quạc của thầy lí. Sự kết hợp lời nói và hành động giữa hai nhân vật tạo nên một tín hiệu đặc biệt, một thứ mật ngữ. Lời được phát ngôn công khai cho tất cả mọi người cùng nghe. Mật ngữ thì chỉ có hai người trong cuộc mới biết được rõ. Hành động kì quặc đó được giải mã bởi lời nói của thầy lí kèm theo hành động: ” Thầy lí cũng xòe năm ngón tay trái úp lên trên năm ngón tay phải mặt nói : Tao biết mày phải…..nhưng nó lại phải…..bằng hai may!”

    Giữa ngón tay-tiền- lẽ phải có mối liên hệ mật thiết. Ngón tay thể hiện số lượng tiền. Tiền để đo lẽ phải. Theo như thầy lí thì tiền là lẽ phải, lẽ phải được đo bằng tiền. Người nào có nhiều tiền thì lẽ phải ắt thuộc về người đó. Gía trị tố cáo của truyện chính là ở chỗ đó. Trong xã hội mà mọi thứ được đo bằng tiền thì thử hỏi công lý ở đâu?.

    Một thầy lí nổi tiếng xử kiện giỏi mà còn như vậy. Thầy ăn của đút cả hai phía, “đục nước béo cò” mà lại dám công khai trước công đường với lời nói và hành động thật nực cười. Thầy lí là đại diện cho những kẻ có quyền thế “cầm cân nảy mực” trong lạng lại hiện ra nguyên hình là kẻ ăn đút trắng trợn. Ở đây nghệ thuật chơi chữ được thể hiện qua chữ phải: ” Mày phải….nhưng nó lại phải…..bằng hai mày”.

    Cả ba nhân vật trong truyện đều bật ra tiếng cười. Lí trưởng là nhân vật bị đả kích còn Ngô và Cải là hai nhân vật bị phê phán. Cải và Ngô tùy là nạn nhân nhưng là những kẻ tiếp tay cho những việc làm đổi thay công lí, nhập nhằng trắng đen bằng việc đút lót của sau.

    Truyện về cơ bản giống truyện Tam đại con gà nhưng ngắn gọn hơn, giàu kịch tính hơn. Tính cách nhân vật lí trưởng được giấu kín chỉ bộc lộ ở cuối truyện để tăng tính bất ngờ cho truyện. Sự kết hợp giữa hành động và ngôn ngữ cùng lối chơi chữ tạo nên tình huống gây cười.

    Qua đây tác giả cũng muốn phê phán những kẻ có quyền có thế coi đồng tiền là tất cả làm ô uế xã hội, làm mất đi sự công bằng của xã hội.

Bài văn mẫu 4

    Cải lót tiền trước cho lí trưởng nên quan hệ giữa Cải và Lí trưởng là quan hệ đã được dàn xếp, đã được mua bán bằng đồng tiền. Cải yên tâm về mối quan hệ này, chắc chắn là mình sẽ được kiện. Thế nhưng khi lên công đường tình huống mới đột ngột xuất hiện. Lí trưởng tuyên bố đánh Cải chục roi. Đây là hành vi bất ngờ ngoài dự kiến của Cải, đặt ra nhiều phán đoán với nhân vật, với người đọc. Từ đó, dẫn đến xuất hiện một màn kịch ngắn. Hai nhân vật, một bên hết sức ngạc nhiên và cố xin xét lại, một bên thản nhiên kết án, một bên hoàn toàn bị động, một bên rất chủ động. Động tác và lời nói hai bên hoàn toàn trái ngược nhau. Động tác và lời nói cuối cùng của thầy lí kết thúc màn kịch, giải quyết tinh huống, mọi phán đoán đều đã có một kết luận chung. Quan hệ giữa Cải và thầy lí bị xóa bỏ bởi một quan hệ mới được dàn xếp tốt hơn đã thay thế. Đó là quan hệ giữa Ngô và thầy lí.

    Trong màn kịch ngắn trên, “ngôn ngữ” giao tiếp của hai nhân vật là lời nói và hành động. Hai thứ ngôn ngữ này cùng kết hợp với nhau để đưa ra một nội dung cụ thể. Ví dụ: hành động “xèo 5 ngón tay” – lời nói “Lẽ phải …”; hành động “Xòe 5 ngón tay úp lên 5 ngón tay mặt” – lời nói “Lẽ phải gấp đôi”

    Hành động là để 2 người trong cuộc hiểu nhau. Còn ngôn ngữ thì công khai nói cho tất cả những người có mặt nghe. Hai thứ ngôn ngữ này phải kết hợp lại nhau mới tạo thành nội dung đối thoại đầy đủ, rõ ràng:

    Lẽ phải được tính bằng 5 ngón tay, 2 lần lẽ phải là 10 ngón tay. Quay lại đối chiếu với phần đầu, người ta hiểu được tính chất quy ước ở đây: 5 ngón tay bằng 5 đồng, tức là ngón tay của Cải trở thành ký hiệu tiền tệ và hai bàn tay úp vào nhau của lý trưởng là ký hiệu cho lượng tiền đút lót của Ngô và Cải.

    Tức là lẽ phải chính là tiền. Tiền là lẽ phải được đem ra để làm cán cân công lý. Tiền nhiều thì lẽ phải nhiều, tiền ít thì lẽ phải ít, bên nào nặng tiền hơn thì cán công lý nghiêng về phía đó. Đó chính là nội dung tố cáo của truyện.

    Như vậy yếu tố kịch trong đoạn truyện được tạo nên qua lời nói và hành động của hai nhân vật Cải và Lí trưởng. Cái yên tâm được kiện, nhưng hành động xử kiện của lí trưởng hoàn toàn ngược lại với sự yên tâm của Cải và cách giải thích của quan tòa khiến Cải không kịp trở tay, rơi vào tình trạng bi hài: Vừa mất tiền vừa bị đánh.

    – Nghệ thuật gây cười qua lời nói của thầy lí ở cuối truyện

    Trong câu nói của lí trưởng có sử dụng hình thức chơi chữ, từ đó mà tạo nên tiếng cười. Từ “phải” ở đây là một từ đa nghĩa. Nghĩa thứ nhất là chỉ lẽ phải, chỉ cái đúng, tức là từ chỉ tính chất. Nhưng khi từ này kết hợp với từ chỉ số lượng (bằng 2) thành cụm: “phải bằng 2”, thì nghĩa của nó lại là định lượng cho mức tiền lo lót của Cải và Ngô với lí trưởng. Bằng nghệ thuật chơi chữ như vậy, chỉ trong một lời thoại ngắn, tác giả đã đưa người đọc đi từ trạng thái “tưởng là thế này” (tưởng “phải” là lẽ phải) đến “hóa ra thế kia” (hóa ra “phải” ở đây lại là mức tiền) trong tích tắc. Lời nói của lí trưởng vừa có cái vô lí, vừa có hợp lí. Vô lí khi đặt nó trong một phiên tòa bình thường, hợp lí khi ta đặt nó vào mối quan hệ thực tế giữa các nhân vật. Ở đây lí trưởng nói bằng mối quan hệ thực tế đó, tức là cái hợp lí đã thay thế cho cái vô lí. Từ đó người đọc mới bất ngờ vỡ lẽ về bản chất: tư lợi từ việc công một cách hồn nhiên và trắng trợn của lí trưởng. Một nền công lí được thực thi như thế, do những con người như thế nắm giữ. Thật là nực cười. Tiếng cười được bật ra khi quá trình nhận thức kết thúc.

    – Đánh giá về nhân vật Ngô và Cải

    Hai nhân vật là hình ảnh dại diện cho những người nông dân ghê gớm, ma lanh nội bộ nhưng lại khờ khạo, bị bóp nặn bởi bọn cai trị. Họ vừa là đồng phạm, vừa là nạn nhân của tình trạng tham nhũng của đám hào lí nông thôn, họ vừa đáng thương, lại vừa đáng trách. Chính họ đã góp phần tạo nên và thúc đẩy thói nhũng nhiễu kia, rồi lại tự đẩy mình vào tình cảnh thảm hại, bi hài.

Nhưng nó phải bằng hai mày

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*