✅ Văn hóa Ả Rập ⭐️⭐️⭐️⭐️⭐

Nền văn hóa Ả Rập huyền bí

Văn hoá Ả Rập được xem như là văn hóa của các quốc gia có ngôn ngữ chính thức là tiếng Ả Rập (mặc dù vậy, ở một vài nước thì nó là ngôn ngữ thiểu số), và các lãnh đạo phương Tây và các học giả sử dụng để gọi họ là “Các nước Ả Rập” của Tây Nam Á và Bắc Phi, từ Maroc cho tới Biển Ả Rập. Ngôn ngữ văn học, ẩm thực, nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc, tâm linh, triết lý, thần bí (…) đều là một phần của di sản văn hóa của các khối quốc gia Ả Rập.

Thế giới Ả rập là đôi khi chia ra thành những khu vực riêng biệt, bao gồm cả Nile (gồm có của Ai cập và Sudan), Al-Maghrib Al-Thổ (bao gồm Libya, Tunisia, Algérie, Maroc, và Mauritania), Trăng lưỡi liềm Màu mỡ (bao gồm của Iraq, Lebanon, Syria, Palestine và Jordan) và bán Đảo ả Rập (bao gồm nam Iraq, Jordan, Kuwait, Bahrain, Qatar, Ả Rập Xê Út, Al Ahwaz Al Arabiya, Oman và các Tiểu Vương Quốc Ả Rập thống nhất) và bán đảo Ả Rập ‘ s Al-Janoub Al-Arabi (bao gồm Yemen và Oman).

Văn hoá Ả Rập được chia thành ba phần chính, văn hóa đô thị (Al-Mudun), văn hoá nông thôn (Ar-san Hô), và văn hoá du mục (Al-Badow). Thông thường, hầu hết các nước Ả rập của Vịnh ba Tư, cùng với các phần của Jordan và Iraq, được coi là Badow (Bedouins). Những vùng nông thôn của các nước khác, chẳng hạn như Palestine, Syria, Lebanon, Iraq, Algeria và Tunisia được coi là nền văn hoá nông thôn. Thành phố của họ thì được coi là văn hóa đô thị. Trong thực tế, hầu hết các thành phố lớn của Ả Rập được công nhận là văn hóa đô thị, giống như Jaffa (Israel “trước kia”), Cairo, Jerusalem, Beirut, Ở Alexandria, Damascus. Levant, đặc biệt là Palestine, Lebanon, Syria cũng như Ai Cập có lịch sử lâu dài của nền văn hoá đô thị.

Văn học

Văn học Ả Rập là được tạo ra bằng việc viết, cả văn xuôi và thơ ca, bởi những người nói tiếng Ả Rập. Nó không bao gồm việc dùng bảng chữ cái Ả Rập để viết, như là văn học Ba Tư và Urdu. Từ ngữ Ả Rập được sử dụng cho văn học gọi là adab, nguồn gốc từ một từ có nghĩa là “để mời ai đó cho bữa ăn”, và nó có ngụ ý lịch sự, văn hóa và phong phú. Văn học Ả Rập đã xuất hiện trong hế kỷ thứ VI, với những mảnh vỡ của ngôn ngữ viết xuất hiện trước đó. Từ thế kỷ thứ VII, kinh Koran đã có ảnh hưởng lớn và lâu đời nhất lên văn hóa Ả Rập và văn học. Al-Khansa, một nhà thơ Ả Rập rất được đón nhận và là đồng nghiệp nữ của Muhammad.

Mu’allaqat

Mu’allaqat (tiếng Ả Rập: المعلقات, phát âm tiếng Ả Rập: [al-muʕallaqaːt]) là tên của một loạt 7 bài thơ Ả Rập hay còn gọi “qasida”, có nguồn gốc trước cả thời gian của đạo Hồi. Mỗi bài thơ trong bộ có một tác giả khác nhau, và được coi là tác phẩm tốt nhất họ từng làm. Mu’allaqat có nghĩa là “Những bài thơ ngắn bị gián đoạn” hoặc “Những bài thơ treo,” và nó đến từ việc chúng bị treo trên bức tường ở Kaaba tại Mecca.

Bảy tác giả, những người trong khoảng thời gian 100 năm, là Imru’ al-Qais, Tarafa, Zuhayr, Labīd, ‘Antara Ibn Shaddad, ‘Amr ibn Kulthum, và Harith ibn Hilliza. Tất cả Mu’allaqats chứa những câu chuyện từ cuộc sống tác giả và việc chính trị của các bộ lạc. Bởi vì thơ đã được sử dụng trong khoảng thời trước khi có đạo Hồi để quảng bá sức mạnh cho các vị vua bộ lạc, sự giàu có và dân tộc.

Nghìn Lẻ Một Đêm (tiếng Ba Tư: هزار و یک شب) là một bộ sưu tập truyện dân gian thời trung cổ kể về những câu chuyện của Scheherazade (trong tiếng Ba Tư: Šahrzād شهرزاد), Nữ hoàng Sassanid, người có liên quan đến một loạt các câu truyện về người chồng độc ác, Vua Shahryar (Šahryār), để hoãn lại bản án dành cho mình. Những câu chuyện được kể trong một khoảng thời gian một ngàn lẻ một đêm, và mỗi đêm, Nữ hoàng sẽ kết thúc câu truyện với một tâm trạng hồi hộp, buộc Đức Vua phải giữ cho cô ấy sống qua đến ngày khác. Những câu chuyện cá nhân, đã được tạo ra qua nhiều thế kỷ bởi rất nhiều người từ những vùng đất khác nhau.

Trung tâm của bộ sưu tập được hình thành bởi cuốn sách của Pahlavi Sassanid Persian có tên là Hazār Afsānah (Thounsand Myths, tiếng Ba Tư: هزار افسانه), một bộ sưu tập của những câu chuyện cổ đại dân gian Ấn Độ và Ba Tư.

Trong triều đại của vua Abbasid Caliph Harun al-Rashid vào thế kỷ VIII, Baghdad đã trở thành một thành phố quan trọng của thế giới. Thương nhân từ Ba Tư, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Phi và Châu Âu đều được tìm thấy ở Baghdad. Trong thời gian này, nhiều câu chuyện kể là những câu chuyện dân gian ban đầu được cho là đã được thu thập bằng miệng trong nhiều năm và sau đó được biên soạn thành một cuốn sách. Người biên dịch và dịch giả của thế kỷ thứ IX sang tiếng Ả Rập nổi tiếng là người kể chuyện Abu Abd-Allah Muhammad el-Gahshigar. Kết cấu câu chuyện của Shahrzad dường như đã được thêm vào thế kỷ XIV.

Âm nhạc

Âm nhạc Ả Rập là âm nhạc của người Ả Rập, đặc biệt là những người tập trung xung quanh bán đảo Ả-rập. Thế giới của âm nhạc Ả Rập từ lâu đã được Cairo, một trung tâm văn hoá thống trị, mặc dù sự đổi mới trong âm nhạc và phong cách của khu vực từ Tunisia đến Ả-rập Xê-út. Beirut, trong những năm gần đây, cũng trở thành một trung tâm chính của âm nhạc Ả Rập. Nhạc Ả Rập cổ điển rất phổ biến trên khắp quần chúng, đặc biệt là một số lượng nhỏ các siêu sao nổi tiếng khắp thế giới Ả rập. Các phong cách âm nhạc phổ biến trong khu vực bao gồm el Maqaam của Iraq, Algeria raï, Kuwaiti sawt và Egyptian el gil.

Thơ ca và khiêu vũ

Thơ ca theo truyền thống Ả Rập bắt nguồn từ văn hóa Bedouin du mục, nơi loại hình nghệ thuật này được lồng ghép để kể chuyện, giải quyết các vấn đề trong xã hội, chào đón khách khứa hoặc giải trí trên những hành trình xuyên sa mạc. Có hai loại nổi bật ‑ Nabati và Al‑Taghrooda. Thơ Nabati thông tục đơn giản và trực tiếp, còn Al‑Taghrooda là thơ ca đối đáp giữa hai người. Đôi khi thơ đi kèm với điệu nhảy dân gian Al‑Ayyala truyền thống được biểu diễn trong các lễ hội hoặc lễ kỷ niệm. Đàn ông cầm gậy và nhảy thành hàng theo điệu trống đều đặn để thể hiện tinh thần đoàn kết.

“Phong cách phổ biến được phát triển thường được gọi là ‘Hồi giáo’ hay ‘Ả Rập’, mặc dù trên thực tế nó vượt qua ranh giới tôn giáo, dân tộc, địa lý và ngôn ngữ” và nó được gợi ý rằng nó được gọi là phong cách Cận Đông (từ Ma-rốc đến Ấn Độ) (Van der Merwe, Peter 1989, trang 9).

Truyền thông

Trước kỷ nguyên Hồi giáo, thơ đã được coi là phương tiện truyền thông chủ yếu trên bán đảo Ả-rập. Nó liên quan đến thành tích của các bộ lạc và thất bại của kẻ thù và cũng là công cụ tuyên truyền. Sau khi sự xuất hiện của Hồi giáo các hình thức giao tiếp khác thay thế thơ là hình thức truyền thông chủ yếu. Imam (nhà giảng đạo) đóng một vai trò trong việc phổ biến thông tin và tin tức liên quan từ chính quyền cho người dân. Các tin đồn suq hoặc thị trường và mối quan hệ giữa các cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền bá tin tức, và hình thức truyền thông giữa người Ả Rập vẫn tiếp tục ngày hôm nay. Trước khi giới thiệu báo chí, người Hồi giáo đã thu được hầu hết tin tức của họ từ những người Hồi giáo tại nhà thờ Hồi giáo, bạn bè hoặc trên thị trường. Quyền hạn thuộc địa và các Nhà truyền giáo Kitô giáo ở Li Băng chịu trách nhiệm giới thiệu báo in. Cho đến thế kỷ XIX những tờ báo đầu tiên bắt đầu xuất hiện, chủ yếu ở Ai Cập và Li Băng, nơi có nhiều tờ báo nhất trên đầu người.

Trong thời kỳ cai trị của Pháp tại Ai Cập trong thời của Napoleon Bonaparte, tờ báo đầu tiên được xuất bản, bằng tiếng Pháp. Có một cuộc tranh luận về việc khi tờ báo tiếng Arập đầu tiên được xuất bản; Theo các học giả Ả Rập, Abu Bakr, theo các nhà nghiên cứu khác, đó là Al Tanbeeh (1800), xuất bản ở Ai Cập, hay đó là Junral Al Iraq (1816), xuất bản ở Irac. Vào giữa thế kỷ XIX, đế chế Thổ Nhĩ Kỳ thống trị báo chí đầu tiên. Ở các nước Bắc Phi gồm Morocco, Tunisia và Algeria sức mạnh thuộc địa của Pháp đã xây dựng một liên kết báo chí giữa các quốc gia đại lục.

Một quán cà phê ở Cairo
Mỗi quốc gia hoặc khu vực trong thế giới Ả rập có nhiều ngôn ngữ thông tục khác nhau được sử dụng cho bài phát biểu hàng ngày, tuy nhiên sự hiện diện của nó trong thế giới truyền thông là không được khuyến khích. Trước khi thành lập Modern Standard Arabic (MSA), trong thế kỷ XIX, ngôn ngữ của các phương tiện truyền thông đã được cách điệu và giống với ngôn ngữ văn học thời đó, chứng minh là không có hiệu quả trong việc chuyển tiếp thông tin. Hiện tại, MSA được sử dụng bởi các phương tiện truyền thông Ả Rập, bao gồm báo chí, sách và một số đài truyền hình, ngoài tất cả các văn bản chính thức. Tuy nhiên, tiếng bản địa đôi lúc có mặt trong một số hình thức truyền thông như nghệ thuật châm biếm, phim truyền hình, video âm nhạc và các chương trình địa phương khác.

Giá trị của truyền thông

Đạo đức báo chí là một hệ thống các giá trị xác định những gì tạo thành báo chí “tốt” và “xấu”. Một hệ thống các giá trị truyền thông bao gồm và được xây dựng bởi các quyết định của các nhà báo và các nhà làm phim khác về các vấn đề như “thông tin mới”, cách sắp xếp tin tức, và để quan sát “đường đỏ”. Một hệ thống giá trị khác nhau theo không gian và thời gian, và được gắn kết trong các cấu trúc xã hội, chính trị và kinh tế hiện có trong một xã hội. William Rugh tuyên bố: “Có một mối quan hệ thân tình, hữu cơ giữa các cơ quan truyền thông và xã hội theo cách mà các tổ chức này được tổ chức và kiểm soát, không thể nào tổ chức và xã hội mà nó hoạt động có thể được hiểu một cách đúng đắn mà không có sự tham chiếu của bên kia. Chắc chắn là đúng trong thế giới Ả Rập. ” Các giá trị truyền thông trong thế giới Ả rập thay đổi giữa và trong các quốc gia. Theo những lời của Lawrence Pintak và Jeremy Ginges, “Phương tiện truyền thông Ả Rập không phải là một khối đá.”

Báo chí

Ở hầu hết các nước Ả Rập, không thể xuất bản tạp chí khi không có giấy phép do chính phủ cấp. Tạp chí trong thế giới Ả Rập, giống như nhiều tạp chí ở phương Tây, đang hướng tới phụ nữ. Tuy nhiên, số lượng tạp chí ở Ả Rập nhỏ hơn đáng kể so với các nước phương Tây. Họ cũng không được điều khiển quảng cáo như phương Tây. Các nhà quảng cáo gây quỹ cho hầu hết các tạp chí phương Tây để tồn tại. Do đó, việc nhấn mạnh ít hơn vào quảng cáo trong thế giới Ả Rập được trưng bày trong các số tạp chí ít.

Internet

Internet trong thế giới Ả Rập là một nguồn quyền lực của biểu hiện và thông tin mạnh mẽ như ở những nơi khác trên thế giới. Trong khi một số người tin rằng nó là một báo hiệu của sự tự do trong các phương tiện truyền thông tới Trung Đông, một số khác lại cho rằng đây là một dạng phương tiện kiểm duyệt mới. Cả hai đều đúng. Internet đã tạo ra một sân chơi mới để thảo luận và phổ biến thông tin cho thế giới Ả Rập giống như các nơi khác trên thế giới. Dặc biệt là giới trẻ truy cập và sử dụng các công cụ. Mọi người được khuyến khích và có thể tham gia thảo luận chính trị và phê bình theo cách mà trước đây không thể thực hiện được. Những người đó cũng bị làm cho thoái chí và bị ngăn cản từ những cuộc tranh luận,vì các chế độ khác nhau cố gắng hạn chế truy cập dựa trên sự phản đối tôn giáo và nhà nước đối với một số tài liệu nhất định.

Những nỗ lực của các chế độ khác nhau để kiểm soát thông tin đều tan rã dần. Những chiến đấu tội phạm trực tuyến đã phát minh ra phương pháp theo dõi và bắt giam bọn tội phạm. Thật không may những công cụ này cũng được sử dụng để bắt giữ các blogger và những ai chỉ muốn được lắng nghe. Internet là một nguồn thông tin rộng lớn và dường như vô tận. Người Ả Rập đang sử dụng nó nhiều hơn thế giới có lẽ nhận thức được và nó đang thay đổi phương tiện truyền thông.

Xã hội

Sự trung thành của xã hội có tầm quan trọng rất lớn trong văn hoá Ả Rập. Gia đình là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của xã hội Ả Rập. Trong khi sự tự tin, cá tính và trách nhiệm được cha mẹ người Ả Rập dạy cho con cái họ, thì lòng trung thành gia đình là bài học lớn nhất được dạy trong mỗi nhà. “Khác với chủ nghĩa cá nhân cực đoan mà chúng ta thấy ở Bắc Mỹ (mỗi người chỉ nghĩ cho bản thân, quyền cá nhân, các gia đình sống xa cách họ hàng…), xã hội Ả Rập nhấn mạnh tầm quan trọng của nhóm. Văn hoá của họ dạy rằng nhu cầu của một nhóm quan trọng hơn các nhu cầu của một người. ” Trong các bộ lạc Bedouin của Ả-rập Xê-út, “những cảm xúc mãnh liệt của lòng trung thành và lệ thuộc được nuôi dưỡng và gìn giữ” bởi gia đình. Margaret Nydell, trong cuốn sách của cô ấy Hiểu người Ả Rập: Một Hướng dẫn cho Thời hiện đại, viết rằng “lòng trung thành và nghĩa vụ gia đình được ưu tiên hơn sự trung thành với bạn bè hoặc nhu cầu của công việc”. Cô ấy nói rằng “Các thành viên trong gia đình được mong đợi sẽ hỗ trợ lẫn nhau trong các vụ tranh chấp với người ngoài. Bất kể những ác cảm cá nhân trong họ hàng, họ phải bảo vệ danh dự của nhau, chống lại sự chỉ trích, và thể hiện sự gắn kết của nhóm…” Của tất cả thành viên trong gia đình, và tôn kính nhất chính là người mẹ.

Tiếng nói Ả Rập Thế giới Ả Rập chịu ảnh hưởng của đạo Hồi và nó thực hiện ngay cả khi không phải tất cả người Ả rập đều là người Hồi giáo. Trong xã hội Ả Rập, thông thường người nói có thể bao gồm các phước lành và tục ngữ trong khi nói chuyện để thêm “vị” cho câu nói của họ.

Ẩm thực

Ban đầu, người Ả Rập ở bán đảo Ả Rập chủ yếu dựa vào chế độ ăn kiêng gồm chà là, lúa mì, lúa mạch, gạo và thịt, ít sự đa dạng, và nhấn mạnh nhiều đến các sản phẩm sữa chua, như leben (لبن) (sữa chua không bơ béo). Ẩm thực Ả Rập ngày nay là kết quả của sự kết hợp của các món ăn phong phú đa dạng, bao gồm thế giới Ả rập và kết hợp với Lebanon, Ai Cập và một vài chỗ. Nó cũng đã bị ảnh hưởng ở một mức độ bởi các món ăn của Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Berber, và những nơi khác. Trong một gia đình Ả Rập tầm trung ở vùng Vịnh Ba Tư, một du khách có thể mong đợi một bữa ăn tối gồm một đĩa lớn, được chia sẻ chung, với một núi gạo, kết hợp thịt cừu hoặc thịt gà, hoặc cả hai, như các món ăn riêng, với nhiều loại rau hầm, nhiều gia vị, đôi khi với nước xốt cà chua. Rất có thể, sẽ có một vài thứ ở bên cạnh, ít lành mạnh hơn. Trà chắc chắn sẽ đi kèm với bữa ăn, vì nó gần như là được tiêu thụ liên tục. Cà phê cũng có thể sẽ được bao gồm.

Văn hoá trà Trà là một thức uống rất quan trọng ở Ả Rập, nó thường được phục vụ với bữa sáng, sau bữa trưa, và với bữa tối. Đối với trà Ả Rập là thức uống khách sạn để phục vụ khách. Người Ả rập cũng thường uống trà với chà là.

Trang phục

Đàn ông

Trang phục Ả Rập cho nam giới từ những chiếc áo choàng truyền thống đến những chiếc quần jean xanh, áo thun và bộ vest kinh doanh. Áo choàng cho phép lưu thông không khí tối đa khắp cơ thể để giữ cho nó mát, và chiếc mũ của trang phục bảo vệ khỏi ánh nắng mặt trời. Đôi khi, người Ả Rập kết hợp quần áo truyền thống với quần áo bình thường.

Phụ nữ

Sự tuân thủ trang phục truyền thống khác nhau giữa các xã hội Ả Rập. Saudi Ả Rập thì truyền thống hơn, còn Ai Cập thì ít hơn. Trang phục Ả Rập truyền thống có đặc trưng che phủ toàn bộ chiều dài cơ thể (abaya, jilbāb, hoặc chador) và khăn trùm đầu (hijab). Phụ nữ được yêu cầu phải mặc abayas ở Saudi Arabia. Ở hầu hết các quốc gia, như Kuwait, Libăng, Libya, Jordan, Syria và Ai Cập, khăn trùm đầu không phổ biến lắm.

Trung Đông – Bắc Phi (MENA) gây ấn tượng thế giới với nền văn hóa Ả-RẬP huyền bí của những điệu múa uyển chuyển, những mỹ nữ mắt sâu quyến rũ cùng những câu chuyện Nghìn lẻ một đêm…

Mỗi quốc gia thuộc khu vực Trung Đông – Bắc Phi mang một nét văn hóa riêng biệt nhưng vẫn có nhiều điểm chung. Những điểm chung có thể kể ra đó là phần lớn người dân theo đạo Hồi, sử dụng chủ yếu là ngôn ngữ Ả-rập, có lịch sử liên quan chặt chẽ với nhau… Không thể phủ nhận chất Ả-rập đậm nét và màu sắc tôn giáo bao trùm lên tất cả các hoạt động của đời sống văn hóa, xã hội.

Tôn giáo

Một trong những câu hỏi đầu tiên khi bạn đến khu vực này sẽ là: “Bạn theo tôn giáo nào”? Tôn giáo (chủ yếu là đạo Hồi) đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong tất cả các hoạt động chính trị, kinh tế và văn hóa – xã hội. Các tôn giáo chính ở khu vực bao gồm Hồi giáo Sunni, Hồi giáo Shia, đạo Kitô, đạo Do Thái, một số tôn giáo của các bộ lạc…

Ngôn ngữ

Tiếng Ả-rập là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất và được vay mượn từ vựng từ nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Do Thái, Hy Lạp, Ba Tư… Đây là ngôn ngữ phong phú, đặc biệt có số lượng lớn từ đồng nghĩa.

Trong thời kỳ hội nhập, với tiềm năng kinh tế phát triển mạnh mẽ, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ được nói nhiều thứ hai tại khu vực này. Có thể kể qua một số ngôn ngữ khác như tiếng Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Do Thái, Farsi…

Phong tục tập quán

Giao tiếp: Người Ả-rập rất coi trọng nghi lễ và thường xét nét tất cả những biểu hiện bề ngoài. Luật Sharia không cho phụ nữ tiếp xúc với nam giới không phải là người trong gia đình. Ở các nơi công cộng, nam nữ phải tách riêng… Dù người nước ngoài cũng không được vi phạm những điều này.

Ăn uống: Do hầu hết khu vực MENA theo đạo Hồi, tín đồ Hồi giáo không ăn thịt heo, uống rượu. Khi dùng hay mang theo những thức này bạn phải tránh không để họ trông thấy vì có thể bị kết tội là không tôn trọng đạo Hồi. Trong bữa ăn, người Ả-rập sử dụng dao, thìa, dĩa và thức ăn được đặt trên đĩa, một số nơi vẫn có sử dụng tay phải để ăn vì tay trái được cho là “không sạch sẽ” và không thích hợp.

Lễ hội

Người Hồi giáo có hai đại lễ trong năm là tháng Ramadan và Lễ hiến sinh Eid el-Adha (hay còn gọi là Lễ cừu).

Tháng Ramadan thường diễn ra vào cuối mùa hè. Trong khoảng thời gian một tháng, những người theo đạo Hồi sẽ nhịn ăn, uống, hút thuốc, quan hệ luyến ái từ lúc mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn.

Eid Al-Fitr là ngày lễ ăn mừng hoàn thành bổn phận nhịn chay được diễn ra vào ngày cuối tháng Ramadan. Lễ Eid Al-Adha được diễn ra vào ngày 10-12/12 theo lịch Hồi giáo, đây là tháng của những cuộc hành hương đến Makkah để thực hiện nghi thức Hajj tại ngôi đền thiêng liêng Kabah đối với tín đồ Hồi giáo có điều kiện. Đại lễ này được tổ chức nhằm tưởng niệm việc tiên tri Abraham sẵn sàng hiến tế con trai của mình cho thánh Allah. Tuy nhiên, Allah đã từ chối và trao cho anh ta một con cừu thế mạng.

Trang phục: Hiếm ở đâu mà trang phục và phong cách phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe như trong thế giới Ả-rập. Theo quy định của đạo Hồi, phụ nữ phải mặc váy áo trùm kín người màu đen, đảm bảo che tóc và chỉ được hở đôi mắt.

Tuy nhiên, hiện nay, ở một số quốc gia như Ai Cập, Libya, phụ nữ đã biết cách tân những bộ trang phục truyền thống nhưng vẫn đảm bảo yếu tố kín đáo. Phụ nữ có thể tự do lựa chọn sử dụng khăn trùm đầu hay không trong đời sống hàng ngày. Nam giới phải mặc quần dài và không được phép đeo dây chuyền ở nơi công cộng.

Lễ Ramadan

Luật pháp và văn hóa của Dubai và UAE có liên hệ mật thiết với truyền thống Hồi giáo. Và thời gian tuyệt vời hơn cả để trải nghiệm truyền thống này là trong tháng Ramadan, tháng linh thiêng của đạo Hồi. Những người theo đạo nhịn ăn từ sáng đến tối, và khi mặt trời lặn, người Hồi giáo thưởng thức bữa ăn iftar với bạn bè và gia đình. Bạn có thể tham gia vào nhiều bữa tiệc iftar trên toàn thành phố và tham gia vào các truyền thống địa phương. Ramadan tính theo lịch âm, vì vậy các ngày lễ dịch chuyển hàng năm, kết thúc bằng ngày nghỉ lễ Eid al Fitr.

Văn hóa nghệ thuật

Từ lâu, những bài hát ca ngợi thánh Alah, ca ngợi tôn giáo thường được ưa chuộng. Ngày càng xuất hiện thêm nhiều bài hát về tình yêu, tình bạn, về cuộc sống giúp nền âm nhạc thêm phong phú.

Người Ả-rập không thích treo ảnh nhân vật trong nhà, thậm chí cả ảnh thần thánh, thay vào đó, họ treo những bức thư pháp theo phong cách Ả-rập. Thư pháp là một sự biểu đạt của nghệ thuật cao quý nhất – nghệ thuật của thế giới tâm linh. Thư pháp đã trở thành hình thức thiêng liêng nhất của nghệ thuật Hồi giáo vì nó mang lại một mối liên kết giữa các ngôn ngữ của người Hồi giáo với đạo Hồi. Các câu cách ngôn và các đoạn hoàn chỉnh trong kinh Koran – kinh thánh của đạo Hồi là những trích dẫn sống động cho thư pháp Ả-rập.

Nghệ thuật truyền thống của người Dubai dựa trên thư pháp Ả Rập, sử dụng chữ viết Ả Rập để tạo ra các mẫu nghệ thuật. Các mô hình hình học Hồi giáo arabesque (đường lượn) và girih (đối xứng) cũng là yếu tố chính trong nghệ thuật truyền thống. Hãy đón xem các sự kiện và triển lãm tôn vinh những tài năng địa phương và quốc tế tại Đại lộ Alserkal ở Al Quoz và Quận Thiết kế Dubai, còn được gọi là d3. Bạn sẽ thấy các phòng trưng bày, studio, buổi biểu diễn, cửa hàng nội thất, cửa hàng nhỏ và quán cà phê trong các trung tâm sáng tạo này.

Lòng hiếu khách của người Ả Rập

Hiếu khách là tinh thần chủ đạo trong nền văn hóa của các Tiểu Vương quốc Ả Rập, và nhâm nhi cà phê Ả Rập hay gahwa chính là một phần trong nghi thức tiếp đón nồng hậu tại đây. Thứ cà phê thơm ngon này được làm từ đinh hương, thảo quả, thì là và nghệ tây, và rót từ một ấm dallah vào một cốc nhỏ gọi là finjaan. Thưởng thức gahwa với chà là trong khi thư giãn ở Majlis, một không gian hội họp thoải mái thường được sử dụng để tiếp khách và gặp gỡ bạn bè.

Thể thao truyền thống

Ngày nay, thể thao dưới nước, thể thao mô tô và phiêu lưu trên sa mạc chiếm một phần rất lớn trong hoạt động văn hóa địa phương cuối tuần, cùng với quần vợt, golf, bóng đá và bóng bầu dục. Nhưng du khách còn có một cơ hội tham gia vào các môn thể thao di sản truyền thống của Tiểu vương quốc, có nguồn gốc từ hoạt động săn bắn và sinh tồn, bao gồm chim ưng, đua lạc đà và các môn thể thao cưỡi ngựa.

Khu di sản

Tìm hiểu sâu hơn về văn hóa và lịch sử Dubai dọc theo Lạch Dubai. Bắt đầu tại Khu phố lịch sử Al Fahidi và đi theo con đường đến Nhà của Sheikh Saeed Al Maktoum và Làng Di sản. Khám phá những ngôi làng theo phong cách truyền thống với những tháp đón gió và những khoảng sân, chiêm ngưỡng kỹ hơn những sản phẩm đồ gốm và dệt may của các nghệ nhân địa phương, cũng như tìm hiểu về cuộc sống địa phương tại Trung tâm Tìm hiểu về Văn hóa Sheikh Mohammed. Có một số bảo tàng và phòng trưng bày trong khu vực, bao gồm Bảo tàng Dubai trong Pháo đài Al Fahidi.

Văn hóa kinh doanh của người Ả-rập Xê-út

Người Ả-rập Xê-út khá chú trọng đến nghi lễ chảo hỏi khách. Khi vào cuộc họp sẽ có người Ả-rập Xê-út chào đón từng người bằng cách bắt tay khi đứng, và trông đợi người khách đáp lại hành động tương tự.

Người Ả-rập Xê-út rất coi trọng nếu khách hàng của họ học được một số cụm từ Ả-rập thích hợp để sử dụng trong những cuộc gặp gỡ như vậy.

Cũng cần chú ý đến cách xưng hô của người Ả-rập Xê-út. Trong tiếng Ả-rập, một người được gọi bằng tên và bất kỳ chức danh nào của người đó. Ví dụ, người tên là “Mr. Ahmed Bin Al-Rahman” sẽ được gọi là “Mr. Ahmed”. Từ “Bin” có nghĩa là “con trai của” và có thể xuất hiện một số lần trong tên của những người khác, bởi một cái tên Ả-rập biểu thị gia phả của người đó. Các Bộ trưởng Ả-rập thường được gọi là “ngài” và các thành viên Hoàng gia được gọi là “hoàng tử/ công chúa”.

1. Gặp gỡ và chào hỏi

Trong  một số trường hợp, một số doanh nhân Ả-rập Xê-út có thể không xác nhận sắp xếp một cuộc hẹn cho đến sau khi đối tác của họ đến Ả-rập Xê-út. Vì vậy, doanh nhân nước ngoài nên thông báo trước với đối tác Ả-rập Xê-út về kế hoạch và lịch trình của mình và tốt hơn hết là lập thời gian cho cuộc họp cụ thể ngay khi đến Ả-rập Xê-út. Ngoài ra, cũng cần lưu ý đến những ngày lễ như Ramadan, Haji và những khoảng thời gian nghỉ cầu nguyện trước khi lên kế hoạch cho các hoạt động gặp gỡ, họp bàn, v.v.

2. Phong cách làm việc

Doanh nhân Ả-rập Xê-út sẽ không hoàn tất bất kỳ cuộc đàm phán nào mà không có buổi họp mặt trực tiếp. Trang phục thích hợp tại cuộc họp là điều thiết yếu bởi nó thể hiện sự tôn trọng dành cho đối tác. Danh thiếp để trao đổi tại cuộc họp thường được in bằng Tiếng Anh ở một mặt và mặt còn lại in bằng tiếng Ả-rập. Các buổi họp diễn ra trong không khí cởi mở, các bên vừa tham gia thảo luận vừa thưởng thức trà và cà phê. Các thương nhân Ả-rập Xê-út muốn tạo cảm giác thoải mái với các đối tác thương mại của mình trước khi đi đến thỏa thuận ký kết hợp đồng.

          Nhiều doanh nhân Ả-rập Xê-út có kinh nghiệm tốt về giao thương, làm ăn với các nước phương Tây và khả năng Tiếng Anh tốt. Họ chuẩn bị kỹ lưỡng cho mỗi cuộc họp và nắm bắt nhanh những chi tiết quan trọng xung quanh các cuộc đàm phán, sử dụng trí nhớ nhiều hơn là giấy tờ và ghi chép. Người Ả-rập Xê-út rất mến khách và sẽ làm nhiều điều để khách hàng cảm thấy được chào đón và thoải mái.

          Về tác phong khi tham gia đàm thoại, người Ả-rập Xê-út có xu hướng đứng gần người đối thoại với mình và sử dụng một số ngôn ngữ cơ thể để nhấn mạnh vào khía cạnh họ quan tâm. Tuy nhiên, điều quan trọng là không được bước lùi lại vì hành động này có thể được hiểu là sự khước từ hoặc bác bỏ những điều đang được nói tới.

3. Một số thông lệ xã hội

          Người Ả-rập Xê-út có thói quen dùng tay phải trong tất cả các cuộc họp, bao gồm việc bắt tay, ăn uông và chuyền đồ vật cho người khác. Vung tay trong lúc nói chuyện có thể bị coi là không lịch sự. Việc quay lòng bàn chân về phía người nói chuyện cùng cũng bị cho là mất lịch sự. Việc hỏi về vợ và con gái của một người sẽ bị coi là khiếm nhã, chỉ nên đặt ra những câu hỏi xã giao về gia đình. Khi được mời uống trà hoặc cà phê, nên uống ít nhất một cốc nếu không muốn bị cho là bất lịch sự. Khi uống xong, nếu không muốn dùng thêm nữa có thể đung đưa chiếc cốc để ra hiệu.

          Nếu hoạt động kinh doanh tại Ả-rập Xê-út trong lễ Ramadan thì tốt nhất là nên nhịn ăn, uống khi đến công ty của người đang trong kỳ ăn kiêng.

          Hoạt động kinh doanh tại Ả-rập Xê-út có một số khó khăn đối với phụ nữ. Phụ nữ phải ăn mặc kín đáo, váy dài được xem là trang phục phù hợp nhất. Tay áo dài đến khuỷu tay hoặc dài hơn à không lộ đường viền cổ áo. Đàn ông theo đạo Hồi thường không bắt tay với phụ nữ hoặc không sử dụng những ngôn ngữ có thể khi đối thoại như khi nói chuyện với doanh nhân nam.

Sự hình thành và phát triển văn hóa Ả Rập – Hồi giáo

ăn hóa Arap – Hồi giáo được chúng tôi sử dụng, như một khái niệm, phần nào mang tính ước lệ, với nội hàm: 1. Đó là nền văn hóa bằng tiếng Arap của người Arap và các dân tộc theo đạo Hồi; 2. Về mặt lịch đại, nền văn hóa này được hình thành và nở rộ dưới các triều đại vương quốc Hồi giáo Khalifat ở giai đoạn từ thế kỷ VII-XII; 3. Việc hình thành của nền văn hóa này là quá trình tạo dựng, tác động qua lại, giao thoa, tiếp nhận và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hóa của người Arap và của các dân tộc bị chinh phục, gia nhập vương quốc Hồi giáo Khalifat ở Trung cận Đông, Trung Á, Bắc Phi và một phần Tây Nam Âu.

Vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa từ lâu đã được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực, trong đó có ngôn ngữ học, triết học, dân tộc học và văn hóa học… quan tâm. Đa số các nhà khoa học đều nhất trí cho rằng ngôn ngữ là một bộ phận cấu thành của văn hóa. Vì vậy khi mô tả bất kỳ nền văn hóa nào, thì những đặc điểm của ngôn ngữ đã truyền tải nội dung của nền văn hóa đó, đương nhiên là không thể không nhắc tới. Nhưng ngôn ngữ là một cái gì đó lớn hơn, so với “một bộ phận” trong tổng số các bộ phận cấu thành của cái tổng thể được mệnh danh là văn hóa đó. Không chỉ là bộ phận của văn hóa phi vật thể, ngôn ngữ còn là công cụ của văn hóa và trong vai trò công cụ của mình, nó đã đụng chạm tới các lĩnh vực khác nhau của văn hóa; mặt khác nó lại không hòa nhập hoàn toàn vào văn hóa. Những yếu tố vật chất của ngôn ngữ, được tổ chức thành hệ thống, là một bản thể độc lập, tiến hóa theo những quy luật riêng, có khả năng bảo tồn trong khi văn hóa thay đổi, hoặc là cùng một lúc chúng có khả năng phục vụ cho một số nền văn hóa. Đối với văn hóa Arap – Hồi giáo, về phương diện này, tiếng Arap đã thể hiện vai trò của mình một cách tuyệt vời nhất.

  1. Lãnh địa và cư dân

Quê hương của người Arap cổ đại là Arabia – một bán đảo lớn trên trái đất, có thể coi như một Á lục địa thật sự, nếu xét về mặt diện tích (3 triệu km2), và tính chất biệt lập tương đối của nó. Nơi đây, theo các nhà khảo cổ học, từ hơn hai ngàn năm trước công nguyên người Arap cổ đại đã từng sinh sống và góp phần tạo nên nền văn minh Tây Á. Về mặt từ nguyên Arab có nghĩa là khô hạn, hoang hóa (chỉ vùng đất cùng cư dân), từ này do sử dụng lâu, nghĩa của nó ngày càng được mở rộng hơn, dần dân trở thành thuật ngữ: Arabia (bán đảo Arap), Arap (người Arap)và al-arabia (tiếng Arap). Những người Arap từ thời xa xưa đã gọi bán đảo này là Djazirat al-arab (tiếng Arap có nghĩa là đảo của người Arap), vì họ thầy vùng đất rộng lớn này tứ phía được bao quanh bởi biển và sông: Phía Đông Bắc là sông Efrat xuôi theo dòng chảy bao bọc, phía Tây Bắc là bờ biển Palestin của Địa Trung Hải, phía Tây là Biển Đỏ, phía Nam là biển Arab, phía Đông là vịnh Persich. Trên vùng đất khô cằn này, các bộ lạc Arap du mục và định cư sống đan xen nhau. Vào thế kỷ VI những người dân du mục (beduin) Arap đã kiểm soát phần lớn đất đai của bản đảo này, mặc dù họ không chiếm đa số dân cư trong vùng. Theo con số thống kê gần đúng, số dân định cư trên bán đảo Arap thời ấy khoảng hơn 4 triệu, trong khi số dân du mục chỉ khoảng 3 triệu (1). Trong suốt thời gian dài 18 thế kỷ, từ thời nguyên thủy đến giai đoạn trung thế kỷ, những quan hệ thương mại của các nước tương đối phát triển, được tiến hành xuyên qua sa mạc Arap, còn vùng bờ biển vịnh Ba Tư do các thương đoàn kiểm soát (2). Cần nhắc lại rằng, vào những thế kỷ đầu của kỷ nguyên chúng ta, vai trò dân định cư ở bán đảo Arap yếu dần di, trong khi ảnh hưởng của dân du mục ngày càng lớn hơn. Họ (dân du mục) ngày càng thâm nhập sâu hơn vào những vùng lãnh thổ do dân định cư đã chiếm giữ và bắt đầu kiểm soát nhiều con đường thương thảo và ốc đảo. Quá trình này kéo dài từ thế kỷ IV đền thế kỷ VI: tính tích cực về chính trị của người dân du mục ngày càng cao, các bãi chăn thả thuộc quyền kiểm soát của họ ngày càng được mở rộng thêm.

  1. Tiếng Arap và chữ viết

Về nguồn gốc, tiếng Arap thuộc nhánh Semit của ngữ hệ Semitkhamit. Về mặt lãnh thổ từ thời xa xưa tiếng Arap đã hình thành, phổ biến và phát triển ở bán đảo Arap trên cơ sở của tiếng Arap cổ đại Bắc Arabia (vùng Bắc và trung tâm bán đảo Arap, và vùng sa mạc Xiry), mà dấu ấn còn lưu lại ở các văn bia từ thế kỷ thứ V trước công nguyên. Phương ngữ của những văn bia cổ đại (Tamut, Lihanit, Xafait…) nói trên, về cơ bản khác với thứ phương ngữ Arap ở giai đoạn sau, là nền tảng của tiếng Arap trung đại và hiện đại (được biết đến trên các văn bia chỉ từ thế kỷ IV sau công nguyên)(3). Từ thời kỳ trước khi Hồi giáo xuất hiện, văn học truyền miệng (chủ yếu là thi ca) bằng phương ngữ này đã phát triển và hình thành chuẩn mực ngôn ngữ văn học truyền miệng Koine (4). Cần phải lưu ý rằng ngôn ngữ thi ca và khẩu ngữ ở các bộ tộc Arap là những hình thái khác nhau của cùng một ngôn ngữ, vì vậy những nguyên lý về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng… của chúng đương nhiên là chung. Hai biến thể về mặt chức năng của một ngôn ngữ này đã bổ sung và tác động lẫn nhau. Khẩu ngữ của các bộ tộc và các vùng, là phương tiện giao tiếp của người Arap, cộng sinh hòa bình cùng ngôn ngữ thi ca, là phương tiện của đời sống tinh thần của cư dân vùng đó nhưng ở một mức độ cao hơn. Còn ngôn ngữ thi ca lại góp phần bảo tồn những đặc tính chung và xóa đi những khác biệt giữa các thổ ngữ. Hoàn cảnh này cũng tương tự ở Hy Lạp trong thời đại Homer, vì vậy các nhà lịch sử ngôn ngữ đã gọi ngôn ngữ của thi ca Arap là ngôn ngữ thi ca hay ngôn ngữ văn học Koine. Ngôn ngữ cộng đồng Koine dần dần mở rộng phạm vi ứng dụng trong xã hội. Người Arap đã sử dụng nó để soạn nên những bài diễn từ, sấm truyền, truyền thuyết… Và tùy thuộc vào môi trường và phạm vi sử dụng mà ngôn ngữ Koine thể hiện trong các biến dạng khác nhau. Nó cho phép sự đa dạng trong phạm vi nhất định và một cách thỏa hiệp, lại dung nạp trong mình đặc điểm của những thổ ngữ hiện sinh, kết hợp với việc bảo tồn những hình thái ngữ pháp, đoản ngữ, những lớp từ vựng cổ xưa đã được tích tụ.

Ngôn ngữ Arap trong Kinh Koran của đạo Hồi (Islam) sau này là sự kết hợp của ngôn ngữ Koine với những quy phạm của phương ngữ Mekka, tạo thành ngôn ngữ văn học cổ điển Arap, ngôn ngữ của những văn phẩm nghệ thuật, khoa học và tôn giáo của phương Đông Hồi giáo giai đoạn trung thế kỷ. Và ngôn ngữ Arap cổ điển ấy, suốt mười lăm thế kỷ (từ thế kỷ VII đến nay) là ngôn ngữ chuẩn (hay ngôn ngữ văn học) của người Arap, vẫn bảo tồn được từ pháp cổ đại, tuy có những thay đổi không đáng kể về mặt từ vựng.

Khi mô tả một ngôn ngữ nào đó dưới góc độ lịch sử văn hóa, trước hết chúng ta cần xét đến bình diện cấu trúc nội tại của nó, để nêu bật những đặc điểm của ngôn ngữ đó về mặt ngữ âm, từ vựng, cú pháp và văn pháp… Tuy nhiên chúng ta chỉ đề cập tới một số đặc điểm chung nhất, thể hiện rõ nét và thường xuyên nhất trên các cảo bản, bởi lẽ những đặc điểm này ảnh hưởng tới tính chất của các văn bản được soạn thảo bằng ngôn ngữ và hệ thống chữ viết Arap, mà nhờ đó những văn bản ấy đã được định hình. Tiếng Arap được hình thành là kết quả của quá trình phát triển lâu dài, trên cơ sở chọn lọc những hình thái phương ngữ khác nhau và sự thấu hiểu chúng về mặt nghệ thuật. Đó là một ngôn ngữ chỉnh thể, phát triển cao và dường như đã hoàn thiện trong quá trình phát triển, đa dạng về cú pháp, phong phú về từ vựng, và là ngôn ngữ thống nhất, nếu như không phải đối với tất cả thì cũng là đối với phần lớn các bộ tộc ở bán đảo Arap, ngay sau khi đạo Hồi hình thành và phát triển…

Ở thời cổ đại, ngôn ngữ của người Arap suốt một thời gian dài ẩn trong bóng tối, bởi lẽ chưa tìm được phương tiện biểu đạt thành văn. Những văn bản bằng tiếng Arap đầu tiên còn lưu giữ lại được là nhờ việc sử dụng hệ thống chữ cái phụ âm gồm 28-29 ký tự của vùng Nam Arabia hay vùng Sabei. Theo các nhà khoa học, hệ thống chữ cái Nam Arabia này đã được sử dụng để lưu truyền ngôn ngữ thân thuộc của cư dân các bộ tộc Bắc Arabia trong suốt mười thế kỷ (từ thế kỷ V trước công nguyên đến thế kỷ IV-V) (5). Nhưng rồi truyền thống này đã không gìn giữ được và đã bị tàn lụi dần cùng với sự tiêu vong của văn học và văn hóa Nam Arabia. Còn văn tự Arap ngày nay là kết quả của việc người Arap đã sử dụng chữ cái của người Nabatei và người Palmir vùng Tây Bắc Arabia (từ thế kỷ II trước công nguyên đến thế kỷ III-IV), là chữ Aramei, thuộc ngữ hệ nhánh Semit. Dần dần từ phiên bản chữ Aramei, người Arap đã cải biên thành kiểu chữ mà sau này trở thành chữ quốc ngữ của họ. Quá trình phát triển của văn tự này diễn ra trong điều kiện hai ngôn ngữ song hành: ở phạm vi chính thống, người ta sử dụng ngôn ngữ viết Aramei truyền thống (mặc dù vào thời đó nó đã bị đẩy ra ngoài phạm vi sử dụng), còn trong đời thường ngôn ngữ hội thoại Arap – Nabatei lại ngự trị. Vì vậy đã diễn ra quá trình tác động qua lại và thâm nhập lẫn nhau giữa hai ngôn ngữ. Trong tiếng Aramei, rất nhiều từ vựng Arap đã được vay mượn, và ảnh hưởng của ngữ âm và hình thái tiếng Arap tác động đến nó cũng không ít. Ngược lại tiếng Arap, lưu truyền được là nhờ chữ viết Aramei, cũng tiếp nhận không ít từ vựng Aramei, trong khi vẫn bảo toàn được những đặc điểm về chính tả của nó..

Văn tự Arap ngày nay, về cơ bản gồm những phụ âm, thể hiện ở 28 chữ cái, được viết từ phải sang trái. Mỗi chữ cái có từ 2 đến 4 hình thái (hay còn gọi là trạng thái, phụ thuộc vào vị thế của chữ cái đó: đứng riêng, ở đầu, ở giữa, hay ở cuối từ). Các nguyên âm dài được biểu hiên bắng các chữ w (u), j (yia), ‘ (alif); những nguyên âm ngắn (thường không thể hiện trên văn bản), được biểu hiện bằng các kí hiệu (tương đương với các âm: a, y, i) ở trên hoặc dưới dòng chữ.

  1. Đạo Hồi và tiếng Arap

Gần mười bốn thế kỷ trước, người Arap, hợp nhất nhau lại bởi một niềm tin vào tôn giáo mới là đạo Hồi, do Muhamad đề xướng, đã vươn ra ngoài phạm vi bán đảo Arabia và bước ra vũ đài lịch sử rộng lớn. Dưới triều đại của những người kế tục nhà tiên tri Muhammad là các khalif, họ đã tạo dựng được một nhà nước khalifat rông lớn, trải dài từ Pirene (Tây Ban Nha) đến tận cửa Ấn Hà (Ấn Độ). Và lần đầu tiên kể từ thời Alecxandr Makedon, người Arap đã nối liền phương Tây và phương Đông, Địa Trung Hải La Mã và thế giới Ấn Độ – Iran.

Việc truyền bá tiếng Arap cùng chữ viết, liên quan tới các cuộc chinh phục của người Arap và việc truyền bá đạo Hồi. Khi đạo Hồi xuất hiện, chữ Arap không chỉ là văn tự của người Arap, mà nhiều dân tộc khác (Iran, Afganistan, Pakistan, Wuigur…) khi tiếp nhận đạo Hồi giáo, đã tiếp nhận và sử dụng tiếng Arap cùng chữ viết như ngôn ngữ chính thống của họ (và cho đến tận bây giờ nhiều dân tộc, không thuộc Arap, vẫn sử dụng hệ thống chữ cái Arap để truyền tải ngôn ngữ của mình. Những dân tộc này, khi sử dụng chữ cái Arap, do nhu cầu diễn đạt của ngôn ngữ mẹ đẻ, đôi khi đã bổ xung thêm những chữ cái của riêng họ).

Sự xuất hiện của đạo Hồi đã đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử phát triển của người Arap và bán đảo Arabia, cả về phương diện ngôn ngữ và văn học. Sự hình thành của đạo Hồi, đã tạo ra được sự đồng nhất về ngôn ngữ ở Arabia, và nhờ đó những tác phẩm văn học thuộc những thể loại chưa từng thấy trước đây cũng đã xuất hiện. Để truyền giáo có hiệu quả, Muhammat (và những đồng sự của ông) đã sử dụng thứ ngôn ngữ chung, dễ hiểu cho mọi người Arap. Vai trò thực tiễn của tiếng Arap là công cụ của đời sống chính trị – tôn giáo ngày càng được nâng cao, cùng với sự tăng trưởng về số lượng thành viên và sự củng cố về mặt tổ chức của công xã tín đồ Hồi giáo, và nhất là khi nhà nước thần quyền Khalifat đầu tiên xuất hiện ở Arabia. Đến khoảng những năm 30 của thế kỷ thứ VII, người Arap không chỉ đoàn kết hợp nhất nhau lại bởi hệ tư tưởng Hồi giáo và quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức những cuộc hành binh mở mang bờ cõi ra ngoài phạm vi Arabia, mà họ còn sở hữu một ngôn ngũ thống nhất, phát triển cao, không khác nhiều lắm so với phương ngữ của các bộ tộc trên vùng lãnh thổ, cùng với một nền văn chương truyền miệng phong phú, trong đó nổi bật là nền thi ca đang thời kỳ nở rộ và hệ thống văn tự độc lập, dẫu rằng vẫn chưa đạt đến mức phát triển thật hoàn thiện. Và cho dù đối với họ khởi đầu dù chỉ mới có một cuốn sách, nhưng lại đặc biệt quan trọng, đó là cuốn Kinh Côran – một di sản văn hóa nói chung, văn học và tôn giáo nói riêng, của nhân loại.

Thời kỳ đầu những bài truyền giáo của Muhammad còn tản mạn, chủ yếu được lưu giữ trong trí nhớ, chỉ một số phần được ghi chép lại. Đến thời Khalif (quốc vương Hồi giáo) Abu Bakra (632-634) toàn bộ những bài truyền giáo của Muhammad mới được tập hợp và biên soạn thành cuốn sách kinh của các tín đồ Hồi giáo, gọi là Kuran (6) (kinh Côran). Đương nhiên vì là viết tay nên chỉ có một bản, và để có nhiều cuốn Kinh Hồi giáo khác nữa, thì cần phải sao chép, (bởi vì đạo Hồi nghiêm cấm dịch kinh Côran) để nhân bản. Và thế là một lĩnh vực mới xuất hiện đó là nghề sao chép các loại văn bản phẩm (kinh sách, văn học, thư tịch, lịch sử, địa lý, ngữ văn, các ngành khoa học tự nhiên, triết học, thần học…).

Một sự kiện quan trong khác, có ảnh hưởng lớn tới quá trình đồng hóa ngôn ngữ Arap, đó là: dưới triều đại của Abdal- malik(685-705), vị Khalif này đã đưa ra những quyết định quan trọng, góp phần củng cố vị thế của tiếng Arap ở các vùng lân bang. Thứ nhất, theo quy định mới, những công việc văn thư ở nha cục thuế, phải chuyển sang sử dụng tiếng Arap (trước đó ở các vùng của Bizantin dùng tiếng Hy Lạp, còn ở các vùng của Iran – sử dụng tiêng Ba Tư trung cổ). Quyết định thứ hai là việc thay đổi tiền xu: đồng xu của Bizantin và Iran được thay thế bằng đồng xu mới với lời chú giải bằng tiếng và văn tự Arap.Việc khẳng định tiếng Arap trong 2 chức năng quan trọng này, đương nhiên đã suy tôn nó lên thành ngôn ngữ quốc gia. Chữ Arap cũng được hoàn thiện hơn. Hệ thống chính tả được chấn chỉnh đã tạo thuận lợi cho việc định hình những văn bản thành văn, đang ngày càng có nhu cầu lớn hơn. Đến cuối thế kỷ VII, đầu thế kỷ VIII số lượng những tác phẩm bằng tiếng Arap: văn bia, tài liệu, các tác phẩm văn học và khoa học đã tăng rõ rệt.

  1. Văn hóa Arap – Hồi giáo

Trên lãnh thổ bán đảo Arap trước khi Hồi giáo xuất hiện, tồn tại nền văn hóa của những cư dân Arap du mục và định cư canh nông, ở giai đoạn sơ kỳ của hình thái xã hội đã phân chia giai cấp. Đại diện của nền văn hóa này là những cư dân theo đa thần giáo. Từ khoảng thế kỷ thứ II đến IV, văn hóa Arap cổ đại chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa: Iêmen, Xiry-Hylạp, Do Thái và Iran cổ đại. Nét đặc sắc của nền văn hóa tiền Hồi giáo (còn được gọi là văn hóa Jahilia(7)) là văn chương truyền miệng và thi ca rất phát triển.

Khi đạo Hồi xuất hiện vào thế kỷ VII, sự thống nhất về nhà nước – chính trị do người Arap tạo dựng nên, công thêm sự thống nhất về tôn giáo, và ở trong phần lớn các vùng do người Arap chiếm đóng có cả sự thống nhất về ngôn ngữ, đã tạo điều kiện cho sự hình thành những hình thái chung của đời sống văn hóa của các dân tộc thuộc nhà nước Khalifat Hồi giáo này. Ở thời kỳ đầu, việc hình thành văn hóa Arap chủ yếu diễn ra như quá trình khám phá, đánh giá lại và phát triển sáng tạo những thành tựu có từ trước, trong những điều kiện tư tưởng, chính trị xã hội mới (đạo Hồi và nhà nước Khalifat) và tiếp thu những nền văn hóa của các dân tộc bị chinh phục (Hy lạp cổ đại, Hy-La, Aramei, Iran, Ấn Độ…). Bản thân người Arap cũng đóng góp vào đấy những hợp phần quan trọng: đạo Hồi, tiếng Arap và truyền thống thi ca cùng vốn văn chương truyền miệng (chủ yếu của người Arap du mục). Một phần đóng góp lớn vào văn hóa Arap (8) thuộc về các dân tộc khác, mà, khi theo đạo Hồi, đã đồng hóa với những kẻ đi chinh phục, tiếp nhận ngôn ngữ của họ, “trở thành người Arap” và tham gia tích cực vào quá trình tạo dựng văn hóa Arap, làm phong phú thêm nền văn hóa này bằng những truyền thống do họ kế thừa được từ các dân tộc phương Đông và thế giới cổ đại. Giờ đây các dân tộc này bắt đầu sử dụng tiếng Arap trong nghiên cứu khoa học, thần học và sáng tác văn học, cũng giống như các học giả châu Âu đã sử dụng tiếng La tinh ở thời trung cổ. Từ thế kỷ VIII người Arap trên đường đi chinh phạt, đánh chiếm Samarkan (712), đã học được kỹ nghệ làm giấy của người Trung Quốc (giấy được dùng ở Mekka vào năm 707, Ai Cập 800), rồi sau đó họ lại truyền sang châu Âu: Tây Ban Nha (950), Constantinopol (1100), Sicil (1102), Đức (1288), Anh (1309)… Phát minh này kéo theo nghề đóng sách và sao chép sách, đồng thời nhờ đó nghề kinh doanh sách cũng phát triển. Theo Yakubi (9) vào khoảng năm 891, ở Bagđađ đã có trên một trăm tiệm bán sách, mỗi tiệm là một trung tâm chép sách và cũng là nơi các văn nhân thường tụ họp. Từ cuối thế kỷ VII đến giữa thế kỷ VIII cùng với Đamask, thủ đô dưới triều đại Omeiađ, những trung tâm văn hóa lớn của Arap là Mekka, Medina ở bản đảo Arap, Kufa và Basra ở Irăc. Những tư tưởng tôn giáo và triết học, những thành tựu khoa học, những niêm luật thi ca Arap, những kiểu mẫu của các công trình kiến trúc… đã được truyền bá và phát triển thêm ở các tỉnh thành thuộc triều đại Khalifat Omeiad trên một lãnh thổ rộng lớn từ Pireni đến tận Ấn Hà.

Từ giữa thế kỷ VIII, cùng với việc hình thành nhà nước Khalifat triều đại Abbasid (750), trung tâm văn hóa Arap ở phương Đông của Khalifat đã chuyển từ Xiry (Damask) về Irăc (Bagdad, được hình thành vào năm 762), là nơi mà hầu như suốt ba thế kỷ đã tập trung những thành tựu văn hóa đặc sắc nhất của phương Đông Hồi giáo. Thế kỷ IX-X là thời kỳ hưng thịnh nhất của văn hóa Arap và ngôn ngữ Arap trong vai trò công cụ truyền tải đã góp phần tạo nên những tượng đài bất hủ. Những thành tựu của nó đã làm phong phú thêm nền văn hóa của nhiều dân tộc, trong đó có văn hóa các dân tộc của châu Âu trung thế kỷ, và đã có những đóng góp lớn lao cho văn hóa thế giới. Song song với công việc sáng tác, đóng góp tích cực vào việc phát triển văn hóa Arap-Hồi giáo và làm giàu thêm ngôn ngữ Arap là hoạt động dịch thuật. Vào thế kỷ VIII-IX nhiều tác phẩm nổi tiếng thuộc nhiều lĩnh vực khoa học, triết học và văn học cổ đại đã được dịch sang tiếng Arap: Ngoài những tác phẩm cổ đại của Hy Lạp (ví dụ: các tác phẩm của Ơclit, Archimed – toán; Ptolemei – thiên văn; Platon, Aristot – triết học…), nhiều tác phẩm khác cũng được dịch chủ yếu từ các tiếng Xiry cổ đại, Ba Tư trung cổ và Ấn Độ cổ đại (chữ số Ấn Độ được các học giả Arap sử dụng, mà sau này khi được sử dụng ở châu Âu người ta đã lầm tưởng và gọi là chữ số Ảrập, PanchatantraĐại dương truyện, Xinbadname, Zahar Afsane). Dưới hình thức các bản dịch và những bản chỉnh lý, những tác phẩm này đã trở thành một bộ phận của văn hóa và văn học viết bằng tiếng Arap và tạo điều kiện cho việc thiết lập mối liên hệ tiếp nhận với văn hóa của thế giới Hy-La, và thông qua đó với các nền văn minh cổ đại phương Tây và văn minh cổ đại phương Đông. Điều này trước hết nói đến sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học chính xác: toán học, thiên văn học, y học, hóa học, khoáng vật học, thực vật học… Ngay từ thời kỳ đầu của nhà nước Khaliphat (các trung tâm khoa học nằm trên vùng lãnh thổ Xiry và một phần tây nam Iran ngày nay) việc dịch thuật sang tiếng Arap và chú giải tác phẩm của các học giả cổ đại (chủ yếu từ tiếng Hy Lạp và tiếng Xiry trung cổ) đã được đặt ra và nhờ đó các học giả Hồi giáo đã được làm quen với phần lớn thành tựu của khoa học cổ đại, nhiều bản dịch đã là cứ liệu duy nhất, mà nhờ đó, sau này Tây Âu có thể tìm hiểu về khoa học cổ đại (ví dụ: ngày nay chúng ta biết đến công trình Cơ học của Geron và nhiều luận đề của Archimed chính nhờ bản dịch sang tiếng Arap từ thời trung cổ còn lưu giữ lại được). Thế kỷ IX-XI là thời kỳ phát triển cực thịnh của văn hóa Arap-Hồi giáo và Bagdad đã trở thành trung tâm văn hóa khoa học lớn với rất nhiều trường học và thư viện. Khi nhà nước Khaliphat bắt đầu phân rẽ thành những vương quốc riêng lẻ (thế kỷ X), ngoài Bagdad, ở phương Đông Hồi giáo còn xuất hiện thêm nhiều trung tâm văn hóa – khoa học khác như: Damask, Haleb (Aleppo) ở Xiry, Kair (Cairo) ở Ai Cập, Maraga ở Agerbaigian, Samarkand ở Trung Á, Gazni ở Afganistan, Kordova, Sevilia và Granada ở Tây Ban Nha Hồi giáo…; có thời kỳ Buhara và Isfahan đã từng là những trung tâm khoa học lớn, có đài thiên văn nổi tiếng, nơi học giả và đồng thời là nhà thơ Ba Tư nổi tiếng Omar Haiam (1048-1122) đã từng làm việc, viết những công trình khoa học bằng tiếng Arap. Ở Kair vào thế kỷ XI “Ngôi nhà minh triết” được sáng lập, nơi có nhà thiên văn học Ibn Iunus (950-1009) và nhà toán học kiêm vật lý học Ibn al-Haisam (965-1039) đã từng làm việc và vào năm 1004 đài thiên văn cũng được xây dựng ở đây. Trong lĩnh vực toán học có thể kể tên các học giả: Al Khoresmi (thế kỷ IX), Abu Fedi (940-998), al-Biruni (973-1048), Omar Haiam, Hasreddina Tysi (1201-1280), Ibn Kura (khoảng 836-901), hai anh em con của Musa (thế kỷ IX), an-Nairizi, Ibn al-Haisam (thế kỷ X)…, những người không chỉ kế thừa các thành tựu toán học của Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại, mà bằng những công trình, phát minh của mình đã đóng góp và thúc đẩy các chuyên ngành số học, hình học, đặc biệt là đại số và lượng giác phát triển (đưa ra hệ thập phân và các quy tắc; hoàn thiện và hệ thống hóa các phương pháp khai căn; các lý thuyết và cách giải các phương trình bậc hai, bậc ba; các phép cầu phương tiết diện hình nón; định luật về các đường thẳng song song; các định luật về hàm số lượng giác, lập ra được các bảng lượng giác với độ chính xác lớn…).

Ngoài cuốn Kinh Koran, tác phẩm mang tính chất tôn giáo (kinh sách) và pháp luật của đạo Hồi, đồng thời là tác phẩm văn xuôi thành văn lớn và đầu tiên bằng tiếng Arap được lưu giữ đến tận ngày nay, còn rất nhiều cuốn sách sưu tầm và tuyển chọn những tác phẩm văn chương truyền miệng và văn học thành văn cũng đã được các học giả, văn sĩ Hồi giáo xúc tiến ngay từ cuối thế kỷ VII đầu thế kỷ VIII, ví dụ: Chuỗi hạt (Mullakat gồm 7 kiệt tác của 7 nhà thơ cổ điển Arap) do Ravi Hammad (694-772) biên soạn, Mufaddaliat của al-Mufaddal (mất khoảng 786), Asmaiat của al-Asmai (mất khoảng 830), hai hợp tuyển thơ văn của Abu Tamam (khoảng 796-845) và al-Buhturi (821-897), phê bình thi ca của Ibn Kutaiba (mất 889), tuyển tập Thi ca của Abu-al-Faraj al-Isfahani (879-967),Kalila và Dimna của Ibn al-Mukafa (bị hành hình khoảng 759), ngàn lẻ một đêm, rồi những tác phẩm thuộc thể loại sira (tiểu thuyết dã sử, truyền thuyết dân gian) và nhiều sáng tác khác nữa (ở giai đoạn đầu của nhà nước Khaliphat và suốt 10 thế kỷ của giai đoạn trung thế kỷ)…

Quá trình tìm kiếm một phiên bản tối ưu của hệ thống chữ cái Arap và sụ tăng trưởng về số lượng những tác phẩm thành văn đã khơi dậy sự hứng thú và niềm say mê lớn đối với các vấn đề ngôn ngữ học của các học giả Arap Hồi giáo trung thế kỷ và thôi thúc họ tìm tòi nghiên cứu (10). Kết quả là chỉ chưa đến một thế kỷ rưỡi sau khi đạo Hồi xuất hiện, đã hình thành các bộ môn ngữ văn học: ngữ pháp, từ điển học, phong cách học, tu từ học, thi pháp học và niêm luật thơ… Nghề viết thuê và sao chép văn bản lại thúc đẩy thư pháp phát triến, mà theo dánh giá của nhiều nhà phương đông học, còn phổ biến hơn cả ở Trung Quốc. Đến lượt mình, khoa học ngữ văn lại tạo sự ổn định cho những chuẩn mực ngôn ngữ và những quy tắc văn pháp, làm phong phú thêm cho ngôn ngữ văn học, củng cố hơn cho vị thế xã hội của nó.

Tiếng Arap cổ điển, dường như bị đóng hộp trong hệ thống chữ viết, ngữ pháp, từ điển, và những tác phẩm văn học khác, thực ra rất ít thay đổi. Minh chứng cho kết luận này là nhận xét của nhà Arap học Xô viết A.B. Khalidov: độc giả Arap ngày nay nếu có chút ít học vấn, là có thể hiểu một cách tương đối những cuốn sách được viết ra từ nhiều thế kỷ trước đây (11). Khó có thể tìm thấy một ví dụ khác về sự ổn định tương đối như vậy ở các ngôn ngữ khác trên thế giới. Nhưng dù sao thì tiếng Arap cũng không hoàn toàn bất biến, trong thời gian suốt mười mấy thế kỷ qua, nó vẫn không để mất đi mối liên hệ với thổ ngữ Arap sống động, mà từ đó có thể tiếp nhận những yếu tố mới về từ vựng và ngữ cú. Ở mỗi thời đại, mỗi vùng, và mỗi môi trường, tiếng Arap đều chọn lọc được cho mình một chút các phương tiện sử dụng, và biểu đạt, tùy theo nhu cầu thực tiễn. Và chỉ có như vậy nó mới thực hiện được vai trò công cụ văn hóa nhiều thế kỷ của mình, góp phần tạo nên nền văn hóa Arap – cầu nối giữa Tây và Đông, giữa văn minh cổ đại và văn minh cận đại phương Tây.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*