🇻🇳 GIA SƯ TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Số đếm
Số đếm

🇻🇳 Trung tâm gia sư Tâm Tài Đức chuyên cung cấp dịch vụ gia sư dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài như người: Anh, Pháp, Đức, Nga, Thái Lan, Khmer, Na Uy, Ả Rập, Ba Lan, Malaysia, Ấn Độ, Lào, Malaysia, Mĩ, Úc, Canada, Đan Mạch, Singapore…

🇻🇳 Học viên cần tìm gia sư dạy Tiếng Việt tại nhà hoặc học tại công ty…gia sư giao tiếp bằng ngôn ngữ của học viên hoặc bằng Tiếng Anh nếu học viên nói được Tiếng Anh để dạy Tiếng Việt.

day kem tieng viet cho nguoi nuoc ngoai

Mục Lục

❓ Gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài là gì ?

🇻🇳 Gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài là hình thức học 1 kèm 1 hoặc 1 nhóm vài học viên, giáo viên sẽ đến nhà hoặc công ty của học viên để dạy, học viên không phải đi đến trung tâm hoặc trường để học theo kiểu truyền thống, học phí học viên sẽ gởi trực tiếp cho giáo viên giảng dạy theo từng buổi hoặc theo tuần hoặc theo tháng tùy vào từng trường hợp cụ thể.

🇻🇳 Hình thức gia sư tiếng Việt đặc biệt cần thiết cho học viên là người nước ngoài quá bận rộn và không rành đường bất tiện cho việc đi lại, gia sư sẽ đến tận nơi giảng dạy cho học viên giúp học viên nhanh chóng xoá bỏ rào cản về mặt ngôn ngữ, đọc, viết tiếng Việt một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.

🍏 Cần tìm gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài

🇻🇳 Gia sư dạy tiếng Việt cho người nước ngoài sẽ giúp học viên làm quen và phát âm đúng với bảng chữ cái trong những buổi học đầu tiên.

STT

Chữ thường

Chữ hoa

Tên chữ

Phát âm

1

a

A

a

a

2

ă

Ă

á

á

3

â

Â

4

b

B

bờ

5

c

C

cờ

6

d

D

dờ

7

đ

Đ

đê

đờ

8

e

E

e

e

9

ê

Ê

ê

ê

10

g

G

giê

giờ

11

h

H

hát

hờ

12

i

I

i

I

13

k

K

ca

ca/cờ

14

l

L

e – lờ

lờ

15

m

M

em mờ/ e – mờ

mờ

16

n

N

em nờ/ e – nờ

nờ

17

o

O

o

O

18

ô

Ô

ô

Ô

19

ơ

Ơ

Ơ

Ơ

20

p

P

pờ

21

q

Q

cu/quy

quờ

22

r

R

e-rờ

rờ

23

 

S

ét-xì

sờ

24

t

T

tờ

25

u

U

u

u

26

ư

Ư

ư

ư

27

v

V

vờ

28

x

X

ích xì

xờ

29

y

Y

i dài

i

🇻🇳 Hiện tại bảng chữ cái tiếng việt gồm 29 chữ cái theo quy chuẩn của Bộ Giáo dục & Đào tạo.Tiếng Việt không có w và z, j, như trong tiếng Anh.

🇻🇳 Bảng chữ cái tiếng Việt là vô cùng quan trọng cho các bé chập chững bước vào lớp 1, và những học viên người nước ngoài muốn học tiếng Việt việc đầu tiên là phải nắm bắt được thông tin về bảng chữ cái như: Bảng chữ cái có bao nhiêu chữ, cách đọc như thế nào, cách viết hoa, viết thường như thế nào?

🇻🇳 Giáo viên sẽ hướng dẫn học viên hệ thống nguyên âm, phụ âm, thanh điệu tiếng Việt, văn hóa, các chủ đề quen thuộc trong cuộc sống như: Làm quen, mua sắm, thời tiết, chỉ đường…

🇻🇳 Chương trình dạy được thiết kế theo hình xoắn ốc (spiral approach), bài học sau là một sự phát triển của các bài học trước. Nội dung tiếp theo bao gồm hai khía cạnh chính : Lặp lại và thêm một số yếu tố mới.

🇻🇳 Việc lặp lại diễn ra ở nhiều lĩnh vực : Ngữ âm, từ vựng và cấu trúc câu. Những yếu tố được xem là mới trong bài học này cũng sẽ được lặp lại ở các bài học kế tiếp.

🇻🇳 Như vậy, ở mỗi bài, học viên người nước ngoài bao giờ cũng có dịp ôn lại những gì đã học rồi.

🇻🇳 Hình thức học 1 kèm 1 giáo viên có thời gian theo sát học viên giúp học viên:

🍀 Nhận ra lỗi sai để sửa

🍀 Nhận ra mặt yếu của học viên và góp ý để học viên cố gắng khắc phục

🍀 Nhận ra mặt mạnh để học viên tiếp tục phát huy

🍀 Biết được trình độ hiện tại của học viên đang ở đâu so với mục tiêu được đề ra cho khóa học.

🍀 Nhận thức về những tiến bộ mà họ đã đạt được

🇻🇳 Trong mỗi giờ học, các bài đọc cũng nên được thiết kế theo lối lặp lại. Đặc biệt là bài tự sự bao giờ cũng sử dụng lại phần lớn các từ vựng đã học trong các bài đối thoại, qua đó, học viên sẽ ôn lại các từ mà họ đã biết dưới những hình thức diễn ngôn mới , từ ngôn ngữ nói sang ngôn ngữ viết.

🇻🇳 Giáo viên sẽ xây dựng cấu trúc giáo trình bao gồm hội thoại, từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm giúp người nước ngoài học tiếng Việt tiếp cận và làm quen những vấn đề cơ bản của một ngôn ngữ mới.

🇻🇳 Từ cấu trúc bài học giáo viên sẽ có những xử lí linh hoạt với từng đối tượng học viên để vừa đảm bảo kiến thức chuẩn vừa phát huy khả năng sử dụng ngôn ngữ của học viên.

🇻🇳 Giáo viên sẽ lồng ghép các bài học về văn hóa mang đến cho người nước ngoài những trải nghiệm đầu tiên về đất nước Việt Nam khi học tiếng Việt.

🇻🇳 Các bài học ngắn gọn, ngôn từ được sử dụng đơn giản có kèm hình ảnh nên dễ hiểu, sinh động.

🇻🇳 Học viên có thể sử dụng tiếng Việt trong quá trình giao tiếp cũng như hiểu được những văn bản tiếng Việt để thuận tiện cho công việc.

🇻🇳 Tăng vốn từ thông dụng trong giao tiếp hằng ngày, giúp học viên có thể hiểu những cuộc trò chuyện của người Việt.

🇻🇳 Rèn luyện kĩ năng phát âm, bởi tiếng Việt là loại ngôn ngữ có thanh điệu.

🇻🇳 Truyền đạt kiến thức Tiếng Việt liên quan đến môi trường làm việc của học viên

🇻🇳 Nâng cao khả năng đọc, hiểu các văn bản tiếng Việt giúp bạn hiểu được nền văn hóa cũng như đặc điểm tính cách của người Việt.

🇻🇳 Không những thế, suốt quá trình học giáo viên sẽ lồng ghép những ví dụ minh họa thực tế trong đời sống, giúp học viên hiểu và ghi nhớ sâu hơn cách sử dụng từ tiếng Việt phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể.

🇻🇳 Bởi dân gian có câu, “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”

🇻🇳 Bài giảng có hệ thống, đi từ kiến thức nền tảng để học viên hiểu và nắm bắt được kiến thức từ cơ bản đến nâng cao.

🇻🇳 Phương pháp dạy linh động, đan xen những mẩu chuyện dân gian thú vị, giúp học viên phần nào hiểu được nền văn hóa Việt Nam.

🇻🇳 Mục tiêu dạy trọng tâm, học nhanh chóng sẽ giúp học viên tiếp cận nhanh toàn bộ hệ thống tiếng Việt.

🇻🇳 Từng bước hướng dẫn học viên sử dụng từ điển tiếng Việt để tra cứu và hiểu rõ nghĩa của từ.

🇻🇳 Nhiều học viên là người nước ngoài đã nhờ nhân viên hoặc tự mình liên hệ với công ty gia sư Tâm Tài Đức để tìm gia sư tiếng Việt cho mình.

🇻🇳 Đến nay thì nhiều người đã đọc, viết thành thạo môn tiếng Việt không thua kém gì người Việt.

🇻🇳 Và đặt biệt ngoài việc giúp ích cho công việc nhiều người trong số họ còn làm quen được rất nhiều người bạn Việt có cùng sở thích với mình giúp họ có được cuộc sống xa nhà không còn buồn chán như trước nữa.

🇻🇳 Với phương châm“UY TÍN – TIN CẬY”, dịch vụ gia sư Tiếng Việt cho người nước ngoài của trung tâm gia sư Tâm Tài Đức từ lâu đã trở thành cầu nối quan trọng cho nhiều học viên người người nước ngoài muốn học tiếng Việt tại Việt Nam.

🇻🇳 Chúng tôi tin rằng, với sự tận tâm và mong muốn giới thiệu văn hóa Việt đến bạn bè thế giới, đội ngũ gia sư tiếng Việt sẽ mang đến cho học viên những bài học bổ ích và thú vị

🇻🇳 Và nếu như các bạn muốn nhanh chóng sở hữu và làm phong phú vốn từ tiếng Việt của mình để giao tiếp hay muốn tìm hiểu nền văn hóa Việt để công việc đạt hiệu quả cao thì hãy liên hệ với chúng tôi, những gia sư tiếng Việt sẽ giúp bạn chạm đến những mong muốn đó dễ dàng hơn trong thời gian ngắn nhất.

🇻🇳 Chúc các bạn sẽ có những trải nghiệm thú vị trong quá trình học tập, tiếp cận sâu với con người và nền văn hóa Việt Nam !

gia su tieng viet

✅ Giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

🇻🇳 Với đội ngũ gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài là những giáo viên người Việt bản ngữ giỏi, hoạt bát, tận tâm nhiều kinh nghiệm, có phương pháp và kỹ năng sư phạm truyền đạt dễ hiểu, am hiểu về tiếng Việt và có kiến thức sâu rộng về văn hóa, con người Việt Nam sẽ giúp học viên tiếp cận môn tiếng Việt một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.

🇻🇳 Giáo viên là người bản xứ, giỏi ngôn ngữ, am hiểu và sử dụng ngữ pháp đúng cách sẽ giúp học viên lựa chọn từ ngữ thích hợp để thiết lập các câu nói có ý nghĩa trong giao tiếp.

🍓 Nhu cầu tìm gia sư dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

🇻🇳 Bạn có người thân là người nước ngoài chưa biết qua về Tiếng Việt?

🇻🇳 Bạn muốn người thân của mình biết thêm về Tiếng Việt

🇻🇳 Bạn là nhân viên của các công ty nước ngoài muốn tìm giáo viên dạy Tiếng Việt cho các cấp lãnh đạo, các chuyên gia, nhân viên của công ty là người nước ngoài cần học Tiếng Việt.

🇻🇳 Bạn là người nước ngoài đang công tác hoặc sinh sống tại Việt Nam?

🇻🇳 Một doanh nhân đang trực tiếp đầu tư xây dựng nhà máy, phát triển dịch vụ, sử dụng lao động tại Việt Nam

🇻🇳 Một khách du lịch viên muốn khám phá con người, đất nước Việt Nam.

🇻🇳 Du học sinh muốn học Tiếng Việt phục vụ cho chuyên ngành của mình. Bạn đã có những phiên dịch viên, bạn có thể tự du lịch bằng những phương tiện hỗ trợ từ trung tâm du lịch mà bạn đăng kí, bạn đã có một vốn tiếng Việt từ những người thân, bạn bè…

🇻🇳 Nhưng còn gì thú vị hơn khi bạn chủ động giao tiếp với những người bên cạnh bạn bằng Tiếng Việt.

🇻🇳 Bạn có ý định muốn Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của mình

🇻🇳 Bạn muốn gắn bó với xứ sở này hay muốn thiết lập mối quan hệ hợp tác lâu dài với người Việt.

Số đếm
Số đếm

💫 Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại nhà

🇻🇳 Gia sư dạy tiếng Việt cho người Nhật

🇻🇳 Gia sư tiếng Việt cho người Trung Quốc (Đài Loan, Người Hoa…)

🇻🇳 Tìm gia sư dạy tiếng việt cho người Hàn Quốc

🇻🇳 Gia gia sư Tiếng Việt cho người : Anh, người Pháp, Đức, Nga, Thái Lan, Khmer, Na Uy, Ả Rập, Ba Lan, Malaysia, Ấn Độ, Lào, Malaysia, Mĩ, Úc, Canada, Đan Mạch, Singapore…giao tiếp bằng ngôn ngữ của học viên để dạy Tiếng Việt

🇻🇳 Nhân viên Đại sứ quán, nhân viên dự án thuộc các tổ chức phi chính phủ

🇻🇳 Khách du lịch

🇻🇳 Người nước ngoài sống và làm việc tại Việt Nam

🇻🇳 Học sinh, sinh viên trường quốc tế là con em của các gia đình người nước ngoài hiện đang sinh sống và đang theo học tại Việt Nam.

🇻🇳 Gia sư dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, cho các giám đốc, tổng giám đốc, các chuyên gia người nước ngoài đang sinh sống, học tập và công tác tại Việt Nam đáp ứng yêu cầu học tập, công tác, quản lý nhân viên và giao tiếp.

🇻🇳 Bên cạnh đó trung tâm gia sư Tiếng Việt cho người nước ngoài cụng cung cấp dịch vụ gia sư tiếng Việt cho các bé gia đình gốc việt đang định cư, sinh sống, học tập ở nước ngoài, gia sư Tiếng Việt cho người nước ngoài đang sinh sống ở nước ngoài dạy online qua mạng.

🕡 Thời gian học tập

🇻🇳 Thời gian học tập linh động học viên có thể tự chọn giờ học cho mình, có thể học tại công ty hoặc tại nhà riêng sao cho phụ hợp nhất với học viên.

🌀 Khóa học tiếng Việt cho người nước ngoài

🇻🇳 Thông thường các khóa với gia sư tùy theo nhu cầu của từng đối tượng học viên cụ thể mà giáo viên sẽ chuẩn bị giáo trình phù hợp cho học viên các khóa học giúp học viên:

🇻🇳 Khóa học làm quen với tiếng Việt: Giúp học viên là người đi du lịch khám phá Việt Nam, xác định được đồ vật và mua bán đơn giản, có thể đọc được bảng biển, tên đường…

🇻🇳 Khóa họcTiếng Việt căn bản: Giúp học viên kết bạn và hoà nhập với cuộc sống một cách đơn giản nhất, thiết lập những đoạn hội thoại đơn giản, giao tiếp với người Việt.

🇻🇳 Khóa học Tiếng Việt cho học viên sống và làm việc tại Việt Nam: Giúp học viên sống và làm việc một cách hiệu quả tại Việt Nam, đọc và viết ở mức sơ cấp, giao tiếp qua điện thoại và lưu ghi chú.

🇻🇳 Khóa họcViệt Nam, đất nước và con người: Giúp học viên khám phá vẻ đẹp con người, văn hoá truyền thống Việt Nam, đọc và viết các đoạn văn, hoà nhập với văn hoá Việt Nam ở mức độ cơ bản .

🇻🇳 Khóa học ngôn ngữ tiếng Việt trong gia đình: Giúp học viên sống như người Việt với một sự thấu hiểu trọn vẹn, sống và giao tiếp như người bản xứ đọc và viết ở mức cao cấp

🎈 Những thuận lợi và khó khăn của người nước ngoài khi học tiếng Việt
1 Tiếng Việt dễ học

1.1 Từ ngắn: Từ ngắn và dễ học. Nhiều từ thông dụng như ngủ và đi chỉ có một âm tiết, và thậm chí những từ đa âm tiết như là
thú vị cũng thường ngắn.

1.2 Thanh điệu ổn định: Thanh điệu không thay đổi tùy theo ngữ cảnh; có nghĩa là, thanh điệu của mọi âm tiết đều luôn luôn giữ
nguyên.

1.3 Không giới tính: Tiếng Việt không có giới tính ngữ pháp. Giới tính là một trở ngại lớn đối với người học của nhiều ngôn ngữ
như là tiếng Ả-rập và Đức, vì dạng từ thường không theo quy tắc và phi lý.

1.4 Không số nhiều: Tiếng Việt không có dạng từ số nhiều, dù là danh từ hay tính từ hay động từ đi chăng nữa. Dạng số nhiều có
thể rất bất quy tắc (như trong tiếng Đức và Ả-rập) và do đó cũng khó học.

1.5 Không có mạo từ: Tiếng Việt không có mạo từ. Trong nhiều ngôn ngữ như là tiếng Đức và Bồ Đào Nha, làm chủ được mạo
từ là một việc khó khăn, bởi vì dạng từ của chúng có thể dựa trên giới tính, số lượng, và cách thể.

1.6 Không chia động từ: Động từ tiếng Việt không cần được chia; tức là, chúng chỉ luôn luôn có một dạng. Một số ngôn ngữ có
hàng trăm dạng động từ, và người học có thể phải dành ra hàng năm để học được.

1.7 Thì dễ: Thì của tiếng Việt được tạo ra bằng một số nhỏ các tiểu từ đặt trước động từ, như là đã cho quá khứ và sẽ cho tương
lai. Do đó, bạn có thể sử dụng thành thạo các thì tiếng Việt trong vòng vài phút.

1.8 Không bắt buộc dùng thì: Các tiểu từ chỉ định thì có thể được bỏ qua nếu ngữ cảnh đã làm rõ thì của từ, hoặc bằng cách dùng
từ thời gian, như trong Tôi ăn trưa hôm qua.

1.9 Không cách thể: Từ Việt không thay đổi theo cách thể ngữ pháp (như là danh cách hay tặng cách), khiến cho thứ tiếng này dễ
học hơn nhiều so với các ngôn ngữ với hệ thống cách thể phức tạp như tiếng Đức.

1.10 Không có sự phù ứng: Bởi vì từ tiếng Việt không biến đổi và cũng không có hiện tượng chia động từ, nên chúng không bao
giờ thay đổi theo thì, số lượng, và giới tính của những từ khác trong câu, khác với nhiều ngôn ngữ khác.

1.11 Dễ đọc: Tiếng Việt được viết bằng bảng chữ cái Latin có dấu. Nó dễ đọc hơn nhiều so với các ngôn ngữ châu Á khác như là
tiếng Trungtiếng Nhật, vốn được viết bằng bộ chữ phi Latin.

1.12 Dễ viết: Tiếng Việt dễ viết vì nó sử dụng bảng chữ cái Latin và bởi vì chính tả của nó khá ổn định, không như các ngôn ngữ như là tiếng Pháp và Anh hoặc tiếng Đức

Xem thêm các khóa học ngoại ngữ khác:

Gia sư tiếng Ý

1.13 Từ dễ: Tiếng Việt được tạo ra dựa trên mô hình Trung Quốc. Bởi vì mỗi âm tiết có một ý nghĩa rõ ràng (thường là được lấy
từ một ký tự Trung Quốc), ta có thể dễ dàng hiểu nghĩa từ ghép nếu ta biết được nghĩa của từng thành phần trong từ ghép.

1.14 Ngữ pháp dễ: Ngữ pháp tiếng Việt dễ hơn nhiều so với nhiều ngôn ngữ khác, bởi vì những đặc điểm như là chia động từ và
biến đổi từ theo cách thể không hiện diện, trong khi những đặc điểm khác, như là dạng số nhiều và thì, thì dễ sử dụng và cũng
không bắt buộc.

1.15 Mật độ thông tin: Tiếng Việt dồn nhiều thông tin vào trong cùng một số lượng âm tiết hơn là các ngôn ngữ thế giới chủ đạo
khác, và điều này giúp việc học dễ hơn bởi vì từ ngắn diễn tả ý nghĩa hiệu quả hơn.

2 Tiếng Việt khó học

2.1 Phát âm khó

1. Phụ âm. Đa số phụ âm trong số 19 phụ âm của thứ tiếng này giống với tiếng Anh và dễ phát âm, nhưng kh và âm đầu ng, như
trong ngôn ngữ, có thể khó nói.

2. Nguyên âm. Tiếng Việt có 11 nguyên âm và nhiều nguyên âm đôi và nguyên âm ba. Đối với người học, những nguyên âm
khó nhất có lẽ là /ư/, /ơ/, /â/, và /ưa/.

3. Âm tiết. Có gần 7000 âm tiết, một số có cấu trúc phức tạp, và nhiều âm tiết khó phát âm, như là đưỡn, nghiêng, dượt, và bưu.
24

4. Thanh điệu. Tiếng Việt thực ra có tám chứ không phải sáu thanh điệu. Một số thanh điệu khó đọc, như là dấu nặng và ngã.

2.2 Nghe hiểu

Mọi người thường cho rằng việc học cách sử dụng một ngôn ngữ một cách thụ động (đọc và nghe) thì dễ hơn là sử dụng một cách chủ
động (nói và viết). Đối với tiếng Việt, dường như việc nói có thể dễ hơn là nghe, vì những lý do sau đây.

1. Âm khó. Âm vị tiếng Việt giàu và phức tạp: 11 nguyên âm, 19 (hoặc 20) phụ âm, 8 âm cuối, và 8 thanh điệu kết hợp lại với
nhau để tạo ra gần 7000 âm tiết, một số trong số đó khá giống nhau và khó phân biệt, như là nhinh [ɲïʲŋ], nghinh [ŋïʲŋ], và
nghiêng [ŋiəŋ]

2. Thanh điệu khó. Có thể khó phân biệt được sự khác nhau giữa một số thanh điệu khi người nói đang nói nhanh, chẳng hạn
như sự khác nhau giữa ngoài, ngoại, và ngoải khi nói nhanh.

3. Nói nhanh. Tiếng Việt thường được nói khá chậm, nhưng nếu người nói nói nhanh, không rõ, hay nhỏ giọng, thì việc hiểu trở
nên khó khăn.

4. Từ vựng. Một trở ngại lớn trong việc học bất kỳ ngôn ngữ nào là sự hiện diện của từ và cụm từ lạ. Nhưng ngay cả khi bạn đã
biết đa số các từ ngữ, bạn vẫn có thể thấy khó hiểu được tiếng Việt.

5. Dự tính. Nếu có ai hỏi bạn một câu hỏi nằm ngoài dự tính của bạn, bạn sẽ dễ hiểu nhầm ngay cả khi bạn đã biết mọi từ trong
câu hỏi đó.

6. Trí nhớ thính giác. Nếu bạn học một từ bằng cách đọc nhưng lại hiếm khi nghe nó, bạn có thể không nhận ra nó. Bạn cần một
“hình ảnh thính giác,” chứ không chỉ là hình ảnh thị giác, để hiểu được từ đó khi bạn nghe nó.

7. Mất kiểm soát. Khi nói thì bạn đang là người kiểm soát đề tài, từ vựng, và tốc độ, nhưng khi nghe, người kia sẽ chiếm quyền
kiểm soát và bạn có thể bị lạc lối. Do đó, việc nói có thể dễ hơn là việc nghe.

8. Mật độ thông tin. Mặc dù mật độ thông tin cao khiến cho tiếng Việt nhìn chung dễ học hơn, nhưng trên thực tế nó có thể
khiến cho việc nghe khó hơn bởi vì bạn có thể mất nhiều thời gian hơn để hấp thu lượng thông tin dày đặc hơn.
25

2.3 Đại từ và Loại từ

1. Đại từ. Có hàng tá đại từ, và để sử dụng chúng một cách chính xác đòi hỏi kiến thức về các yếu tố văn hóa và xã hội. Một điều
dễ gây nhầm lẫn chính là việc cùng một từ, như là anh và cháu, có thể vừa chỉ đến ngôi thứ nhất lẫn ngôi thứ hai.

2. Loại từ. Tiếng Việt có số lượng loại từ giàu có, sử dụng chúng là bắt buộc, và nhớ được loại từ nào phù hợp với danh từ nào
có thể là một việc khá khó khăn.

💲 Bảng giá gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài
Bảng giá gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài
Bảng giá gia sư dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Mọi chi tiết liên hệ với chúng tôi :

TRUNG TÂM GIA SƯ TÂM TÀI ĐỨC

Các số điện thoại tư vấn cho Phụ Huynh :

Điện Thoại : 091 62 65 673 hoặc 0902 968 024 hoặc 0163 4136 810

Các số điện thoại tư vấn cho Gia sư :

Điện thoại : 0946 433 647 hoặc 0962 876 961 hoặc 0908 290 601

Mã số thuế : 0311933841

🍑 Gia sư dạy tiếng Việt cho người trung quốc – Đài Loan

Giáo viên dạy tiếng Việt cho người Đài Loan, ngôn ngữ giao tiếp bằng tiếng Trung để dạy tiếng Việt
Khu Công Nghiệp Dệt May Bình An, Đường Số 6, Phường Bình Thắng, Huyện Dĩ An, Tỉnh Bình Dương, Bình An, Dĩ An, Bình Dương
Số học viên : 3
Học viên : Nam và Nữ
Tuần dạy : 4 buổi
Thời gian : T2,3,5,6 khoảng 19h-20h30
Yêu cầu : Giáo viên giỏi giao tiếp, phát âm chuẩn, có kinh nghiệm, có phương pháp sư phạm, truyền đạt dễ hiểu, nhiệt tình, có tác phong sư phạm
Mức lương : 320.000đ/buổi-1.5 triếng
Tình trạng lớp : Cần gấp

✅ Tuyển gia sư dạy tiếng Việt cho người Hàn

Giáo viên nữ dạy tiếng Việt cho người Hàn, ngôn ngữ giao tiếp bằng tiếng Anh hoặc tiếng Hàn để dạy tiếng việt
Đường Lê Hồng Phong, Phường Phú Thọ, Thị Xã Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương
Số học viên : 1
Học viên : Nam, 51 tuổi
Tuần dạy : 3 buổi
Thời gian : T3,6 khoảng 19h trở đi, CN khoảng 14h-17h sắp xếp
Yêu cầu : Giáo viên giỏi giao tiếp, phát âm chuẩn, có kinh nghiệm, có phương pháp sư phạm, truyền đạt dễ hiểu, nhiệt tình, có tác phong sư phạm
Mức lương : 280.000đ/buổi-1 tiếng
Tình trạng lớp : Cần gấp

Giáo viên dạy tiếng Việt cho người Hàn ngôn ngữ giao tiếp bằng tiếng Hàn để dạy tiếng Việt
Minh Sáng Plaza, 888 Đại Lộ Bình Dương, Phường Thuận Giao, Thị Xã Thuận An, Tỉnh Bình Dương
Số học viên : 1
Học viên : Nam
Tuần dạy : 2 buổi
Thời gian : Khoảng 17h-18h30 hoặc 17h30-19h sắp xếp
Yêu cầu : Giáo viên giỏi giao tiếp, phát âm chuẩn, giao tiếp được với người bản xứ, có kinh nghiệm, có phương pháp sư phạm, truyền đạt dễ hiểu, nhiệt tình, có tác phong sư phạm
Mức lương : 320.000đ/buổi-1.5 triếng
Tình trạng lớp : Cần gấp

🇬🇧 Gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài nói tiếng Anh

✳️ Gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài tại Quảng Ngãi

Họ và Tên : Phạm Quỳnh Anh
Địa chỉ :Tổ 1, phường Nghĩa Chánh, TP Quảng Ngãi
Điện thoại:………….
Giới tính :Nữ
Số CMND:…………….
Các yêu cầu khác : Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ngôn ngữ giao tiếp bằng Tiếng Anh để dạy Tiếng Việt

❇️ Gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài ở Gia Lai

Họ và Tên : Lê Thị Mỹ Giang
Địa chỉ : Trường sơn Yên Thế Pleiku
Điện thoại:…………
Email :……………..
Giới tính :Nữ
Số CMND:…………..
Đang dạy trường :………………….
Số năm kinh nghiệm :3 năm
Đăng ký dạy Môn :Tiếng anh. Tiếng Việt cho người nướ ngoài
Lớp :lớp 1 đến 12 Và tieng anh Giao tiếp
Phương tiện đi lại :đi bằng xe máy

🍐 Tuyển gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài

☘️ Yêu cầu:

🌸 Yêu thích công việc giảng dạy

🌸 Có kinh nghiệm dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

🌸 Có phương pháp sư phạm

🌸 Tự soạn giáo trình giảng dạy phù hợp cho từng đối tượng học viên

🌸 Giao tiếp thành thạo một trong các ngôn ngữ : Tiếng Anh, Hàn, Nhật, Trung, Nga, Đức, Tây Ban Nha, Ý, tiếng Thái, tiếng Hindi….

☘️ Quyền lợi :

🌺 Được giới thiệu lớp dạy phù hợp

🌺 Có môi trường giao lưu và làm việc với người nước ngoài.

🌺 Trãi nghiệm môi trường làm việc năng động, chuyên nghiệp, có cơ hội phát triển bản thân và sự nghiệp

🌺 Tăng thu nhập nhờ việc giảng dạy

☘️ Thời gian làm việc :

🌱 Toàn thời gian

🌱 Bán thời gian

🌱 Online

☘️ Địa điểm

🌼 Toàn quốc

🌼 Tại nhà học viên

🌼 Tại công ty của học viên

🌼 Dạy online tại nhà gia sư

🍒 Tuyển gia sư dạy tiếng Việt cho người Nhật

🥭 Gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài TPHCM

🍎 Gia sư tiếng Việt cho người nước ngoài Hà Nội

❓ Học tiếng việt có khó không ?

🇻🇳 Thầy Tomita – một giáo sư người Nhật nổi tiếng. một người có đóng góp lớn trong việc nghiên cứu và phát hiện nhiều giá trị của tiếng Việt.

🇻🇳 Thầy nói bằng một thứ tiếng Việt chuẩn xác và nhấn nhá âm điệu, thầy rất dễ mến và vui tính thầy bảo “Lâu lắm rồi 40 năm rồi cơ mà, thế mà tiếng Việt vẫn rất khó.”

🇻🇳 Cái cách thì kéo dài chữ “rồi” nghe thật vui tai 40 năm về công nghiên cứu tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số, Hán Nôm và rất nhiều thứ khó của tiếng Việt.

🇻🇳 Ở tuổi đã về hưu thầy vẫn nói là khó lắm thật khiêm nhường.

🇻🇳 Nhìn chung, bản thân việc học một ngoại ngữ là không hề dễ, mức độ khó dễ của ngôn ngữ tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng là mục đích, động lực, và khả năng nhận thức của mỗi cá nhân.

🇻🇳 Nếu như bạn là người yêu thích tiếng Việt, văn hóa Việt và quyết tâm chinh phục ngôn ngữ này thì bạn hoàn toàn có thể sử dụng nó thành thạo chỉ sau một thời gian học tập.

🇯🇵 Người Nhật yêu tiếng Việt

🔘 Giáo sư Tomita và Phó giáo sư Shimizu của đại học Osaka và chục năm trời say mê với tiếng Việt, tiếng các dân tộc Việt, bao nhiêu chuyến lên bản sống trong làng để nghiên cứu mhám phá sự giàu đẹp của ngôn ngữ Việt, và tiếp tục lan truyền tình yêu đó đến với thế hệ những người Nhật trẻ, yêu Việt Nam trước hết từ ngôn ngữ.

🔘 Anh Terada, chàng trai trẻ sang Việt Nam tình nguyện ở tỉnh Hòa Bình, sống cùng nông dân, học tiếng Việt và đam mê với thứ tiếng khó này, để rồi trở thành một thầy giáo dạy tiếng Việt cho người Nhật, là phóng viên đang tiếng Việt của đài truyền hình quốc gia NHK

🔘 là chị Mica, chị Ayaka, tiến sĩ và thạc sĩ chuyên ngành ngôn ngữ tiếng Việt, tha thiết với Việt Nam từ ẩm thực đến quốc phục.

⌨️ Các phông chữ tiếng Việt hỗ trợ trên máy tính

💻 Các phông chữ Unicode chứa các chữ cái tiếng Việt; nằm rải rác trong phần “Latin Cơ bản”, “Latin-1 Thêm”, “Latin Mở rộng-A”, “Latin Mở rộng-B”, và Latin Mở rộng Thêm.

💻 Chữ quốc ngữ có thể được biểu thị trong ASCII dựa trên quy ước như VIQR.

💻 Trước khi Unicode được dùng rộng rãi, các phông chữ TCVN3, VNI, và VISCII cũng đã được dùng để biểu thị tiếng Việt. Ngày nay UTF-8 là mã hóa được dùng rộng rãi trên máy tính cho tiếng Việt.

💻 Nhiều bàn phím máy tính không hỗ trợ việc nhập trực tiếp các ký tự tiếng Việt.

💻 Điều này dẫn đến sự ra đời của các phần mềm cho phép thực hiện các phương pháp nhập ký tự tiếng Việt theo quy ước như Telex, VIQR hay VNI.

🖥️ Bộ gõ chữ Việt

📲 Để có thể viết chữ Việt trên trên máy tính và điện thoại thông minh, cần có bộ gõ tiếng Việt là một phần mềm hỗ trợ soạn thảo văn bản bằng tiếng Việt đi kèm với một số phông chữ tiếng Việt cơ bản.

📲Người dùng cũng có thể cài đặt thêm các phông ký tự chữ Quốc ngữ đa dạng khác phụ vụ trang trí và nghệ thuật.

📲Các bộ gõ tiếng Việt khác nhau sẽ quy định các phím bấm khác nhau để hiển thị các dấu thanh, dấu mũ và dấu móc.

📲Có những quy ước chuẩn dấu tiếng Việt, bộ mã, cách gõ và những phần mềm khác nhau.

📲Hiện nay, bộ mã chữ Việt theo chuẩn quốc tế Unicode đang được dùng phổ biến nhất.

🇻🇳 Tiếng Việt

📖 Tiếng Việt, còn gọi tiếng Việt Nam hay Việt ngữ, là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam.

📖 Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn 4 triệu người Việt hải ngoại. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

📖 Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Nôm – một hệ chữ viết dựa trên chữ Hán – để viết nhưng tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại).

📖 Ngày nay, tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ, cùng các dấu thanh để viết.

📖 Tiếng Việt được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, tại Chương I Điều 5 Mục 3, là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam.

📖 Tiếng Việt bao gồm cách phát âm tiếng Việt và chữ Quốc ngữ để viết.

📖 Tuy nhiên, hiện chưa có bất kỳ văn bản nào ở cấp nhà nước quy định giọng chuẩn và quốc tự của tiếng Việt.

📖 Hiện nay phần lớn các văn bản trong nước được viết theo những “Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt” áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục nêu tại Quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984 do những người thụ hưởng giáo dục đó sau này ra làm việc trong mọi lĩnh vực xã hội.

📖 Tiếng Việt cũng đã được công nhận là một ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Cộng hòa Séc.

📖 Cũng cần lưu ý tránh nhầm lẫn với Việt ngữ (粵語) hay tiếng Quảng Đông, một ngôn ngữ được sử dụng ở miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây) cũng như ở Hồng Kông và Ma Cao.

📖 Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế đặt mã ngôn ngữ hai chữ cái cho tiếng Việt là “vi” (tiêu chuẩn ISO 639-1) và đặt mã ngôn ngữ ba chữ cái cho tiếng Việt là “vie” (tiêu chuẩn ISO 639-2)

💞 Xếp loại tiếng Việt

💓 Với những cơ sở khoa học gần đây được đa số các nhà ngôn ngữ học thừa nhận, tiếng Việt có quan hệ gần gũi với tiếng Mường, và được xếp vào Ngữ chi Việt thuộc nhóm ngôn ngữ Môn–Khmer trong ngữ hệ Nam Á ở khu vực Đông Nam Á hiện nay.

💓 Những ngôn ngữ này có chung một số từ vựng căn bản.

💓 Thí dụ, từ tay trong tiếng Việt tương đương trong tiếng Mường là thay, trong tiếng Khmer là đay và trong tiếng Môn là tai.

📝 Chữ viết tiếng Việt

🖋️ Hiện nay, tiếng Việt dùng hệ chữ viết như ký tự Latin gọi là chữ Quốc ngữ.

🖋️ Theo tài liệu của những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lúc trước, chữ Quốc ngữ phát triển từ trước thế kỷ thứ XVII rồi được chuẩn định do công của một nhà truyền giáo người Pháp tên là Alexandre de Rhodes (1591–1660).

🖋️ Ông là người cho in cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum năm 1651.

🖋️ Sau cuộc xâm lăng của người Pháp vào giữa thế kỷ thứ XIX, chữ Quốc ngữ trở nên thịnh hành và có mặt hầu hết trong các văn bản chính thức kể từ sau thập niên 1920.

🖋️ Trước đó, người Việt dùng hai loại chữ viết là chữ Hán và chữ Nôm.

🖋️ Đến đầu thế kỷ XX thì Chữ Nôm trở nên ít thông dụng và không còn là công cụ truyền đạt ý tưởng văn chương của người Việt nữa.

🍀 Thư pháp

🖌️ Cùng với chữ Hán, chữ Nhật và chữ Hàn, chữ viết tiếng Việt cũng được nhiều người yêu thích thư pháp nâng lên hàng nghệ thuật.

🖌️ Có thể nói, thư pháp chữ Việt đầu tiên được viết là thư pháp chữ Nôm.

🖌️ Dần dần, cùng với việc chữ Nôm được thay thế bởi chữ Quốc ngữ, trong khi nhu cầu và sở thích treo chữ trong nhà vẫn còn, người ta đã khởi xướng thư pháp chữ Quốc ngữ.

🇻🇳 Ngữ pháp tiếng Việt

🔴 Giống như nhiều ngôn ngữ khác tại Đông Nam Á, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập.

🔴 Các quan hệ ngữ pháp được thể hiện chủ yếu thông qua hệ thống hư từ và cách sắp xếp trật tự từ trong câu.

🔴 Trật tự từ thông dụng nhất trong tiếng Việt là chủ ngữ – vị ngữ – phụ ngữ (SVO).

🔴 Vị trí các từ được sắp xếp theo thứ tự, từ mang ý chính đứng trước từ mang ý phụ phụ đứng sau bổ sung nghĩa cho từ mang ý chính, tương tự như danh từ đứng trước tính từ đứng sau bổ sung nghĩa cho danh từ.

🔴 Tiếng Việt còn có hệ thống đại từ nhân xưng phức tạp dựa trên các từ ngữ chỉ quan hệ thân thuộc, và hệ thống danh từ đơn vị.

🇻🇳 Từ vựng tiếng Việt

🔵 Từ vựng tiếng Việt được chia ra thành hai bộ phận lớn: từ thuần Việt và từ mượn.

🔵 Ngoài ra còn có những từ hỗn chủng, là kết quả của sự kết hợp các yếu tố thuần Việt và ngoại lai.

🔆 Từ thuần Việt

🔅 Từ thuần Việt là những từ xuất hiện lâu đời trong tiếng Việt, biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm cơ bản nhất trong đời sống hằng ngày.
🔅 Do có sự tiếp xúc từ rất sớm với các ngôn ngữ nhóm Tày-Thái nên nhiều từ thuần Việt và các từ tương ứng trong các tiếng này có sự giống nhau nhất định về ngữ âm và ngữ nghĩa.

🔅 Trước 1960, một số từ thuần Việt được dùng để đặt tên thông tục cho người trong tầng lớp bình dân, hoặc để tránh bị ma quỷ thần thánh bắt đi.
🔅 Tại miền Bắc có các tên như “Rụt”, “Tằm”, “Cột”,… nhẹ nhàng hơn thì là “Cu”, “Gái”,… Tại miền Nam có các tên như “Đực”,… Sự phát triển dân trí dẫn đến cách đặt tên thông tục giảm dần.

🔆 Từ Hán–Việt

🔅 Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán bắt đầu khi nhà Hán của Trung Quốc xâm chiếm nước Việt.

🔅 Quá trình tiếp xúc lâu dài đã đưa vào tiếng Việt một khối lượng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán.

🔅 Giai đoạn đầu, hiện tượng này diễn ra lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu thông qua đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc giữa người Việt và người Hán, tạo nên một lớp từ có nguồn gốc Hán cổ mà ngày nay đã hoà lẫn với các từ thuần Việt.

🔅 Đến đời Đường, tiếng Việt mới có sự tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống qua đường sách vở.

🔅 Các từ ngữ gốc Hán này chủ yếu được đọc theo ngữ âm đời Đường tuân thủ nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt gọi là âm Hán–Việt. Khi được đưa vào tiếng Việt, bên cạnh việc bị thay đổi về mặt ngữ âm, nhiều từ Hán Việt bị thay đổi cả ngữ nghĩa.

🔅 Từ Hán-Việtchiếm một phần không nhỏ trong vốn từ vựng tiếng Việt.

🔅 Chúng có vai trò quan trọng, hiện diện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Người Việt ở tầng lớp trung lưu trở lên đặt tên người theo từ Hán Việt như Sơn, Thủy, Phong,… phân biệt với nhóm bình dân “quê mùa” đặt tên theo tiếng thuần Việt như Núi, Nước, Gió,…

🔅 Tuy nhiên, nhiều người nổi tiếng có xu hướng đặt các nghệ danh theo tên Hán Việt, thường được báo chí Việt Nam gọi là các tên kêu, các mỹ từ như Nhật Kim Anh, Lý Nhã Kỳ, Phan Đinh Tùng, Quang Lê, Ngô Kiến Huy…

🔅 Nhờ cuộc vận động giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt việc sử dụng từ Hán Việt đã có sự chọn lọc, có xu hướng thay thế bằng từ thuần Việt khi có thể.

🔅 Trong bức thư gửi cho Hồ Mộ La vào năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Răng không kêu chú là chú Minh, lại kêu bằng “Minh thúc”. Tiếng ta có, thì nên dùng tiếng ta, như rứa phổ thông hơn, phải không cháu?”. Hồ Chí Minh cũng đề xuất thay thế các từ “giám mã” bằng “giữ ngựa”…

🔆 Từ có nguồn gốc Ấn–Âu

🔅 Kể từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng đáng kể đến tiếng Việt và các từ ngữ gốc Pháp thâm nhập khá nhiều vào tiếng Việt, chỉ sau từ Hán-Việt.

🔅 Sự ảnh hưởng này là do tiếng Pháp được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Nhà nước và trong giảng dạy ở nhà trường, cũng như trong các loại sách báo khác.

🔅 Ảnh hưởng này kéo theo sự xuất hiện của nhiều từ gốc Pháp trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong khoa học kỹ thuật.

🔅 Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, miền Bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng đáng kể của Liên Xô.

🔅 Do đó, một số từ ngữ gốc Nga có điều kiện du nhập vào tiếng Việt.

🔅 Đồng thời, cùng với sự tiếp xúc, hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, trong tiếng Việt cũng xuất hiện các từ ngữ có nguồn gốc từ tiếng Anh.

🔅 Nhìn chung, khi được đưa vào tiếng Việt, những từ này được Việt hoá về mặt âm đọc (thêm thanh điệu, thay đổi âm hoặc giảm bớt âm tiết).

🔅 Do vậy, những từ đơn âm tiết (hoặc được đơn âm hoá), vay mượn qua khẩu ngữ dễ dàng thâm nhập vào tiếng Việt.

🔅 Trong khi đó, những từ có hai hoặc nhiều âm tiết trở lên, được vay mượn thông qua sách vở vẫn còn dấu ấn ngoại lai.

🔅 Đặc biệt, nhiều từ được vay mượn nguyên dạng nên tạo không ít khó khăn trong cách phát âm.

🔆 Từ có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số

🔅 Là một nước đa sắc tộc với 54 dân tộc được công nhận, tiếng Việt phổ thông tiếp nhận một phần tiếng dân tộc thiểu số, gồm từ thông dụng và tên riêng của người hay địa vật, và các từ này có thể có vần “phi Việt”.

🔅 Quá trình này diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử, nhưng chưa được nghiên cứu kỹ.

🔅 Dựa theo tên người/danh xưng đăng tải trên báo chí và các địa danh trên các bản đồ hành chính, chúng ta có thể phân loại các cách nhập tiếng dân tộc thiểu số như sau:

🔅 Từ tiếng nói của hầu hết các dân tộc từ Quảng Bình trở ra, đã cư trú lâu đời cùng người Kinh và/hoặc thuộc vùng Văn hóa Đông Á, như người Mường, Tày, Nùng, Thái,… thì họ tên người thì theo từ Hán Việt như các họ “Triệu”, “Đàm”, “Cầm”, “Đèo”,…, còn địa danh thì theo ghi âm như “Nậm”, “Huổi/ Khuổi”, “Pắc”,…

🔅 Đôi khi sự giao lưu với người Kinh dẫn đến những tên hỗn hợp như Hang Bua (tên tiếng Thái là Thẩm Bua, nghĩa là Hang Sen).

🔅 Từ tiếng H’Mông thì theo ghi âm mà không theo từ Hán Việt, mặc dù tiếng H’Mông có quan hệ gần gũi với tiếng Hoa.

🔅 Ví dụ như các họ Vàng (Vương, Vang), Giàng (Dương, Yang),… hay các địa danh như Lao Cai (nghĩa chữ là Chợ Cũ, từ Hán Việt là Lão Nhai 老街), Sa Pa (Sa Pả, nghĩa chữ là Bãi Cát),… Trường hợp loại trừ là họ tên vua Mèo được dùng từ Hán Việt như Vương Chí Sình nhằm thể hiện sự trang trọng.

🔅 Từ tiếng nói của các dân tộc ở Tây Nguyên, Nam Bộ,… thì theo ghi âm là chính, như Đăk Lăk, Krông Pắk… hoặc biến âm như Sóc Trăng, Nha Trang,…

🔅 Các chữ và vần “phi Việt” được viết theo hướng dẫn trong Quyết định 240/QĐ “Về tên riêng không phải tiếng Việt”, trong đó các chữ cái F, J, W, Z có thể tùy nghi sử dụng.

🔆 Từ hỗn chủng

🔅 Từ hỗn chủng là những từ được tạo thành từ các yếu tố có nguồn gốc khác nhau, như giữa yếu tố thuần Việt và Hán Việt, giữa yếu tố thuần Việt và yếu tố Ấn-Âu.

🔅 Cùng với sự phát triển của tiếng Việt, các từ hỗn chủng được tạo ra ngày càng nhiều, đóng vai trò quan trọng trong việc diễn đạt các khái niệm mới trong xã hội hiện đại.

🔅 Ví dụ:

⭕ Vôi hoá (Hán-Nôm: 𥔦化) – “vôi” là thuần Việt, “hoá” là Hán-Việt.

⭕ Ôm kế – “ôm” là từ tiếng Đức Ohm, “kế” là Hán-Việt.

⭕ Nhà băng – “nhà” là thuần Việt, “băng” là từ tiếng Pháp banque.

⭕ Game thủ – “game” là tiếng Anh, “thủ” là Hán-Việt.

🇻🇳 Lịch sử tiếng Việt

📜 Tiếng Việt là ngôn ngữ có nguồn gốc bản địa, xuất thân từ nền văn minh nông nghiệp, tại nơi mà ngày nay là khu vực phía bắc lưu vực sông Hồng và sông Mã của Việt Nam.

📜 Theo A. G. Haudricourt giải thích từ năm 1954, nhóm ngôn ngữ Việt-Mường ở thời kỳ khoảng đầu Công nguyên là những ngôn ngữ hay phương ngữ không thanh điệu.

📜 Về sau, qua quá trình giao thoa với Hoa ngữ và nhất là với các ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai vốn có hệ thống thanh điệu phát triển cao, hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt xuất hiện và có diện mạo như ngày nay, theo quy luật hình thành thanh điệu.

📜 Sự xuất hiện các thanh điệu, bắt đầu khoảng thế kỷ thứ VI (thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam) với ba thanh điệu và phát triển ổn định vào khoảng thế kỷ XII (nhà Lý) với 6 thanh điệu.

📜 Sau đó một số phụ âm đầu biến đổi cho tới ngày nay.

📜 Trong quá trình biến đổi, các phụ âm cuối rụng đi làm thay đổi các kết thúc âm tiết và phụ âm đầu chuyển từ lẫn lộn vô thanh với hữu thanh sang tách biệt.

📜 Ảnh hưởng từ tiếng Hán

📚 Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt giao tiếp của dân thường từ khi lập nước.

📚 Giai đoạn từ đầu Công nguyên, tiếng Việt có rất nhiều âm không có trong tiếng Trung.

📚 Từ khi tiếng Trung có ảnh hưởng tới Việt Nam thông qua nhiều con đường và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, tiếng Việt bắt đầu có những âm được vay mượn từ tiếng Trung.

📚 Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong cuốn sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt chia quá trình tiếp xúc Hán – Việt thành hai giai đoạn lớn:

✴️ Giai đoạn từ đầu Công nguyên đến đầu thời nhà Đường (đầu thế kỷ VIII), từ vựng tiếng Hán ảnh hưởng tới tiếng Việt trong giai đoạn này gọi là từ Hán cổ

✴️ Giai đoạn từ thời nhà Đường (thế kỷ VIII – thế kỷ X) trở về sau, từ vựng tiếng Hán ảnh hưởng tới tiếng Việt trong giai đoạn này gọi là từ Hán Việt.

📚 Từ Hán cổ và từ Hán Việt được gọi chung là từ gốc Hán.

📚 Một số từ ngữ Hán cổ có thể kể đến như “đầu”, “gan”, “ghế”, “ông”, “bà”, “cô”, “chè”, “ngà”, “chén”, “chém”, “chìm”, “buồng”, “buồn”, “buồm”, “mùi”, “mùa”… Từ Hán cổ là những từ gốc Hán được du nhập vào tiếng Việt đã lâu, đã được đồng hoá rất mạnh, nên những từ này hiện nay là từ thông thường trong hoạt động xã hội đối với người Việt.

📚 Hệ thống từ Hán-Việt trong tiếng Việt bằng cách đọc các chữ Hán theo ngữ âm hiện có của tiếng Việt (tương tự như người Nhật Bản áp dụng kanji đối với chữ Hán và katakana với các tiếng nước ngoài khác.

📚 Hiện nay có 1945 chữ Hán thông dụng trong tiếng Nhật, cũng có khoảng 2000 từ Hán–Hàn thông dụng).

📚 Số lượng từ vựng tiếng Việt có thêm hàng loạt các yếu tố Hán–Việt. Như là “chủ”, “ở”, “tâm”, “minh”, “đức”, “thiên”, “tự do”… giữ nguyên nghĩa chỉ khác cách đọc; hay thay đổi vị trí như “nhiệt náo” thành “náo nhiệt”, “thích phóng” thành “phóng thích”, “đảm bảo” thành “bảo đảm”…; hoặc được rút gọn như “thừa trần” thành “trần” (trong trần nhà), “lạc hoa sinh” thành “lạc” (trong củ lạc, còn gọi là đậu phộng)…; hoặc được đọc chệch đi như “tiếp thu” thành “tiếp thụ”, “tháp nhập” thành “sáp nhập”, “thống kế” thành “thống kê”, “chúng cư” thành “chung cư”, “vãn cảnh” thành “vãng cảnh”, “khuyến mãi” thành “khuyến mại”…; hay đổi khác nghĩa hoàn toàn như “phương phi” trong tiếng Hán có nghĩa là “hoa cỏ thơm tho” thì trong tiếng Việt lại là “béo tốt”, “bồi hồi” trong tiếng Hán nghĩa là “đi đi lại lại” sang tiếng Việt thành “bồn chồn, xúc động”…

📚 Mặt khác, người Trung Quốc gọi là Thái Sơn, Hoàng Hà, cổ thụ… thì người Việt lại đọc là núi Thái Sơn, sông Hoàng Hà, cây cổ thụ (mặc dù sơn = núi, hà = sông, thụ = cây)…

📚 Do tính quy ước của ngôn ngữ mà ít nhiều các cách đọc sai khác với tiếng Hán vẫn được chấp nhận và sử dụng rộng rãi, trong khi các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay cũng như các cơ quan, các cấp quản lý, tổ chức xã hội – nghề nghiệp lẫn các nhà khoa học Việt Nam chưa tìm được tiếng nói chung trong việc chuẩn hoá cách sử dụng tên riêng và từ vựng mượn từ tiếng nước ngoài.

📚 Bên cạnh đó, cũng có những từ được cho là dùng sai và khó chấp nhận như, “quan ngại” được dùng và hiểu như “lo ngại”, “vấn nạn” được hiểu là “vấn đề nan giải”, “vô hình trung” thì viết thành “vô hình chung” hay “vô hình dung”, “việt dã” bị hiểu là “chạy dài”; “trứ tác” được dùng như “sáng tác”, “phong thanh” được dùng như “phong phanh”, “bàng quan” được dùng như “bàng quang”, “đào ngũ” được dùng là “đảo ngũ”,”tham quan” thành “thăm quan”, “xán lạn” thành “sáng lạng”…

📚 Tỉ lệ từ Hán Việt trong tiếng Việt rất lớn. Theo ước lượng của các nhà nghiên cứu, từ Hán Việt chiếm khoảng trên dưới 70% vốn từ trong phong cách chính luận, khoa học (Maspéro thì cho rằng, chúng chiếm tới hơn 60% lượng từ tiếng Việt).

📚 Tác giả Lê Nguyễn Lưu trong cuốn sách Từ chữ Hán đến chữ Nôm thì cho rằng, về lĩnh vực chuyên môn và khoa học tỉ lệ này có thể lên đến 80%, nhưng khi nhận xét về văn ngữ trong một cuốn tiểu thuyết thì chỉ còn 12,8%, kịch nói rút xuống còn 8,9%, và ngôn ngữ nói chuyện hằng ngày còn thấp hơn nữa.

📚 Các từ và từ tố Hán Việt được sử dụng để tạo ra các từ ngữ mới cho tiếng Việt như sỉ diện, phi công, bao gồm, sống động, sinh đẻ, vân vân.

📚 Trong khi tiếng Việt gọi là phát thanh (發聲) thì tiếng Hán lại gọi là 廣播 quảng bá; tiếng Việt gọi là truyền hình (傳形) thì tiếng Hán gọi là 電視 điện thị; tiếng Việt gọi là thành phố (城鋪), thị xã (市社) thì tiếng Hán gọi là 市 thị. Tiếng Việt đã lợi dụng được những thành tựu ngôn ngữ trong tiếng Hán để tự cải tiến mình.

📚 Kể từ đầu thế kỷ thứ XI, Nho học phát triển, việc học văn tự chữ Nho được đẩy mạnh, tầng lớp trí thức được mở rộng tạo tiền đề cho một nền văn chương của người Việt bằng chữ Nho cực kỳ phát triển với cái áng văn thư nổi tiếng như Nam quốc sơn hà bên sông Như Nguyệt (sông Cầu).

📚 Cùng thời gian này, một hệ thống chữ viết được xây dựng riêng cho người Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết được phát triển, và đó chính là chữ Nôm.

📚 Để tiện cho việc học chữ Hán và chữ Nôm của người Việt, Ngô Thì Nhậm (1746–1803) đã biên soạn cuốn sách Tam thiên tự giải âm (còn gọi là Tam thiên tự, Tự học toản yếu). Tam thiên tự giải âm chỉ lược dạy 3000 chữ Hán, Nôm thông thường, đáp ứng nhu cầu cần thiết, nhớ chữ, nhớ nghĩa từng chữ, mỗi câu bốn chữ.

📚 Hiệp vần cũng có điểm đặc biệt, tức là vần lưng (yêu vận, vần giữa câu). Tiếng thứ tư câu đầu hiệp với tiếng thứ hai câu dưới, rồi cứ thế mãi đến 3000 chữ, 750 câu. Ví dụ: Thiên – trời, địa – đất, cử – cất, tồn – còn, tử – con, tôn – cháu, lục – sáu, tam -ba, gia – nhà, quốc – nước, tiền – trước, hậu – sau, ngưu – trâu, mã – ngựa, cự – cựa, nha – răng, vô – chăng, hữu – có, khuyển – chó, dương – dê v.v…

📚 Trần Văn Giáp đánh giá đây tuy chỉ là quyển sách dạy học vỡ lòng về chữ Hán, như lời tác giả đã nói, nhưng thực ra cũng có thể coi nó chính là sách Tự điển Hán Việt thông thường và phổ biến ở cuối thế kỷ XVIII, cùng thời với các sách Chỉ nam ngọc âm, Chỉ nam bị loại, và xuất hiện trước các sách Nhật dụng thường đàm, Thiên tự văn và Đại Nam quốc ngữ.

📚 Nhờ có chữ Nôm, văn học Việt Nam đã có những bước phát triển rực rỡ nhất, đạt đỉnh cao với Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765–1820).

📚 Tiếng Việt, được thể hiện bằng chữ Nôm ở những thời kỳ sau này về cơ bản rất gần với tiếng Việt ngày nay.

📚 Tuy hầu hết mọi người Việt đều có thể nghe và hiểu văn bản bằng chữ Nôm, chỉ những người có học chữ Nôm mới có thể đọc và viết được chữ Nôm.

📚 Chữ Nôm được chính thức dùng trong hành chính khi vua Quang Trung lên ngôi vào năm 1789.

📜 Ảnh hưởng từ các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Ấn-Âu

📚 Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ thứ XIX, tiếng Pháp dần dần thay thế vị trí của chữ Nho, trở thành ngôn ngữ chính thức trong giáo dục, hành chính và ngoại giao.

📚 Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo châu Âu, đặc biệt là hai tu sĩ người Bồ Đào Nha Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa, với mục đích dùng ký tự Latinh để biểu hiện tiếng Việt, ngày càng được phổ biến và được người Việt tiếp nhận.

📚 Tờ Gia Định báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ tại Nam Kỳ vào năm 1865, đặt nền móng cho sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam độc lập sau này.

📚 Mặt khác,những khái niệm chính trị xã hội, kỹ thuật mới dẫn đến việc nhập các thuật ngữ, từ ngữ mới. Có hai xu hướng về cách thức nhập thuật ngữ là:

✴️ Nhập từ phiên âm của ngôn ngữ phương Tây, chủ yếu là từ tiếng Pháp, và thường được sử dụng bởi tầng lớp thị dân vốn không thạo chữ Hán như ghi đông, phanh, lốp, găng, pê đan, phuốc tăng (nay gọi là phuộc),…

✴️ Nhập qua tiếng Trung như chính đảng, kinh tế, giai cấp, bán kính… Trong giới văn hoa thì các tên riêng phương tây được dùng là từ Hán-Việt như Á-Căn-Đình (Argentina), Nã-Phá-Luân (Napoleon),… hay Tòa Bạch Ốc (Nhà Trắng),… và được coi là “biểu hiện sự trang trọng”.

📜 Thời kỳ 1945 cho đến nay

📚 Chữ Quốc ngữ là chữ ghi âm, chỉ sử dụng 27 ký tự Latin và 6 dấu thanh, đơn giản, tiện lợi và có tính khoa học cao, dễ học, dễ nhớ, thông dụng; thay thế hoàn toàn tiếng Pháp và tiếng Hán vốn khó đọc, khó nhớ, không thông dụng với người Việt.

📚 Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, sự phát triển tiếng Việt trong chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam diễn ra có chút khác nhau, chủ yếu ở sử dụng từ Hán-Việt và phiên âm tên trong tiếng nước ngoài.

📚 Tại miền bắc có xu hướng chuyển sang sử dụng từ thuần Việt thay thế từ Hán-Việt cùng nghĩa, còn ở miền Nam thì vẫn giữ nguyên việc sử dụng từ Hán-Việt như thời trước 1945.

📚 Ví dụ như miền Nam vẫn giữ tên “Ngân hàng Quốc gia” trong khi miền Bắc đổi thành “Ngân hàng Nhà nước” (1960), miền Nam lại gọi là “phi trường” thì miền Bắc gọi là “sân bay”, miền Nam gọi là “Ngũ Giác Đài” thì miền Bắc gọi là “Lầu Năm Góc”, miền Nam gọi là “Đệ nhứt thế chiến” thì miền Bắc kiên quyết gọi là “Chiến tranh thế giới thứ nhất”, miền Nam gọi là “hỏa tiễn” thì miền Bắc lại gọi là “tên lửa”, miền Nam vẫn gọi là “thủy quân lục chiến” còn miền Bắc lại đổi thành “lính thủy đánh bộ”…

📚 Ngược lại ở miền Bắc lại dùng một số danh từ bắt nguồn từ tiếng Hán như “tham quan”, “sự cố”, “nhất trí”, “đăng ký”, “đột xuất”, “vô tư” v.v. thì miền Nam lại dùng những chữ “thăm viếng”, “trở ngại/trục trặc”, “đồng lòng”, “ghi tên”, “bất ngờ”, “thoải mái”…

📚 Việc phiên âm tên tiếng nước ngoài thì ở miền Nam vẫn theo cách trước 1945 là dùng tên theo từ Hán-Việt, như Băng đảo (Iceland), Úc Đại Lợi (Australia), Hung Gia Lợi (Hungary), Ba Tây (Brazil),…

📚 Tại miền Bắc thì chuyển sang phiên âm trực tiếp thành Ai-xơ-len, Ô-xtrây-li-a, Hung-ga-ri… và trừ ra các tên Hán-Việt của đối tượng đã quá phổ biến như “Pháp”, “Đức”, “Anh”, “Nga”,… Cá biệt (có thể là duy nhất) một tên tiếng Trung là Zhuang (người Tráng) được “phiên âm trực tiếp” theo giọng Hà Nội thành Choang trong tên “Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây”

📚 Tại miền Nam, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ đã đem một số từ tiếng Anh vào ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày.

📚 Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, quan hệ Bắc – Nam được kết nối lại.

📚 Gần đây, sự phổ biến của các phương tiện truyền thanh và truyền hình trên toàn quốc đã làm tiếng Việt được chuẩn hóa một phần nào.

📚 Nhiều từ thuần Việt được sử dụng phổ biến thay cho từ Hán Việt, cũng như với sự tiến triển của internet và toàn cầu hóa, ảnh hưởng của tiếng Anh ngày càng lớn trên báo chí và đội ngũ phóng viên, nhiều từ nước ngoài được đưa vào tiếng Việt có vẻ thiếu chọn lọc cũng như có nhiều ý kiến là có nên viết nguyên bản theo tiếng Anh hoặc ngôn ngữ bản địa nếu cùng gốc Latin…

🌍 Sự phân bố của tiếng Việt

🗺️ Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam, và cũng là ngôn ngữ phổ thông đối với các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

🗺️ Thêm vào đó, có trên 1 triệu người đang sử dụng tiếng Việt tại Hoa Kỳ (đứng thứ 7 toàn quốc, thứ 3 tại Texas, thứ 4 tại Arkansas và Louisiana và thứ 5 tại California), cũng như trên 100.000 người tại Canada và Úc (đứng thứ 6 toàn quốc).

🗺️ Theo Ethnologue, tiếng Việt còn được nhiều người sử dụng tại Anh, Ba Lan, Campuchia, Côte d’Ivoire, Đức, Hà Lan, Lào, Na Uy, Nouvelle-Calédonie, Phần Lan, Pháp, Philippines, Cộng hòa Séc, Sénégal, Thái Lan, Trung Quốc và Vanuatu. Tiếng Việt cũng còn được dùng bởi những người Việt sống tại Đài Loan, Nga…

🗺️ Ngoài ra Tiếng Việt cũng được công nhận là ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Cộng hòa Séc vì người Việt được công nhận là dân tộc thiểu số tại Séc.

🍀 Tiếng địa phương

🌿 Tiếng Việt có sự thay đổi trong giọng nói từ Bắc vào Nam, không đột ngột mà tiệm tiến dần theo từng vùng liền nhau.

🌿 Trong đó, giọng Bắc (Nam Định – Thái Bình), giọng Trung Huế và giọng Nam Sài Gòn là ba phân loại chính.

🌿 Những tiếng địa phương này khác nhau ở giọng điệu và từ địa phương.

🌿 Thanh ngã và thanh hỏi ở miền Bắc rõ hơn ở miền Nam và Trung.

🌿 Miền Bắc phát âm một số phụ âm (tr, ch, n, l…) khác với miền Nam và miền Trung.

Giọng Huế khó hiểu hơn những giọng khác vì có nhiều từ địa phương.

🌿 Từ điển Việt-Bồ-La (1651) của Alexandre de Rhodes lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine lấy tiếng miền Nam làm nền tảng.

🌿 Theo trang thông tin của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc và học giả Laurence Thompson thì cách đọc tiêu chuẩn hiện nay được dựa vào giọng Hà Nội. Tuy nhiên, chưa có quy định nào nói rằng giọng Hà Nội là chuẩn quốc gia.

Giọng chuẩn và giọng địa phương
Đặc trưng trong giọng các vùng miền
Đặc trưng trong giọng các vùng miền
🎤 Ngữ âm tiếng Việt
🔆 Nguyên âm tiếng Việt

⭕ Giống như nhiều ngôn ngữ khác ở Đông Nam Á, tiếng Việt khá phong phú về nguyên âm. Dưới đây là bảng các nguyên âm theo giọng Hà Nội.

Nguyên âm
Nguyên âm
🔆 Phụ âm tiếng Việt

⭕ Bảng dưới đây trình bày các phụ âm trong tiếng Việt và cách viết.

Phụ âm
Phụ âm
🔆 Thanh điệu tiếng Việt

⭕ Tiếng Việt là một ngôn ngữ thanh điệu, mọi âm tiết của tiếng Việt luôn mang một thanh điệu nào đó.

⭕ Do các thanh điệu của tiếng Việt trong chữ quốc ngữ được biểu thị bằng các dấu thanh, còn gọi là dấu, nên một số người quen gọi các thanh điệu của tiếng Việt là các “dấu”.

⭕ Có sự khác biệt về số lượng thanh điệu và điệu trị của thanh điệu giữa các phương ngôn của tiếng Việt, thanh điệu có tên gọi giống nhau không đồng nghĩa với việc chúng sẽ được nói giống nhau trong mọi phương ngôn của tiếng Việt.

⭕ Phương ngôn tiếng Việt Bắc Bộ có sáu thanh điệu, phương ngôn tiếng Việt Trung Bộ và Nam Bộ có năm thanh điệu.

⭕ Thanh điệu của tiếng Việt tiêu chuẩn được cho là gồm sáu thanh: ngang (còn gọi là thanh không dấu do chữ quốc ngữ không có dấu thanh cho thanh điệu này), sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng nhưng lại thiếu các quy định cụ thể về việc lấy cách phát âm trong phương ngôn nào của tiếng Việt làm cách phát âm tiêu chuẩn cho sáu thanh điệu này.

⭕ Các âm tiết mang vần nhập thanh, tức là các vần kết thúc bằng một trong ba phụ âm cuối /k/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái “c” hoặc chữ cái nhị hợp “ch”), /t/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái “t”), /p/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái “p”) chỉ có thể mang thanh sắc hoặc thanh nặng.

⭕ Ba âm tắc trên đã làm cho các âm tiết mang vần nhập thanh chỉ có thể mang các thanh điệu có điệu trị ngắn và nhanh.

⭕ Trong thơ ca các thanh điệu được phân thành hai nhóm: thanh bằng gồm có ngang và huyền, thanh trắc gồm các thanh còn lại.

⭕ Trong các thể thơ cổ như Đường luật và lục bát, sự hoà hợp thanh điệu bằng – trắc giữa các tiếng trong một câu thơ rất quan trọng.

🇻🇳 GIA SƯ TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
5 (100%) 5 votes

1 Comment

  1. Họ và tên: Võ Thị Tú Trinh
    Sinh năm: 1993
    Số điện thoại (Zalo): …
    Địa chỉ Facebook: …
    SỐ CMND: …
    Email: …
    Địa chỉ: 1219/5/20/15 Phường Tân Tiến, Biên Hòa, Đồng Nai
    Tốt nghiệp loại giỏi ngành Quản trị Kinh doanh trường Đại học Lạc Hồng
    Đang dạy tiếng Anh giao tiếp tại TT … Thuận An Bình Dương
    Môn đăng ký: Tiếng Việt cho người nước ngoài

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*