✅ Văn hóa Khmer ⭐️⭐️⭐️⭐️⭐️

Một số nét văn hóa tiêu biểu và nổi bật nhất của văn hóa Khmer

Việt Nam là một trong đất nước sở hữu nền văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng với những nét đặc trưng, độc đáo từ 54 thành phần dân tộc khác nhau như Kinh, Tày, Mông, Thái. Trong đó, cộng đồng dân tộc Khmer được đánh giá là một trong những dân tộc sở hữu nhiều nét đặc trưng riêng biệt và độc đáo, góp phần tạo nên một bức tranh văn hóa muôn màu rực rỡ cho đất nước Việt Nam. Dưới đây là một số nét văn hóa tiêu biểu và nổi bật nhất của văn hóa Khmer mà bạn có thể tìm hiểu nhé.

Phong tục tập quán

Sinh nở được xem là sự kiện quan trọng trong gia đình. Mỗi lần sinh là bắt đầu cho vòng đời mới của một kiếp người. Chính vì thế, người Khmer còn gọi sinh đẻ là “đi biển” (chh’lon tonlê). Quan niệm xưa của người Khmer khi mang thai, người phụ nữ không được phép đi ra khỏi nhà với nhiều lý do khác nhau. Có ý kiến cho rằng: nếu thai mạnh, khi phụ nữ ra đường gặp phải thỏ đang chạy trên đường thì con thỏ ấy không thể chạy nổi. Ngoài ra, những người lớn tuổi còn cho rằng trong lúc thai nghén phụ nữ sẽ chậm chạp hơn đi ra đường dễ bị rắn cắn, sợ trâu bò húc, dễ bị tai nạn… Phụ nữ mang thai không được bước cao bước thấp, không được bước qua rãnh nước (sợ trơn trợt té ngã, sợ sốc thai), không được chạy nhảy, không được với tay lấy những vật dụng cao quá đầu (sợ đứt nhau thai) (Theo lời kể của ông Chau Nưng, 2009, phum Ô Thum, ấp Phước Lợi, xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang).

Khi mang thai, trong ngôi nhà của chính mình người phụ nữ Khmer vẫn không được ngồi hoặc đứng ngay cửa ra vào và nhà hàng xóm cũng vậy. Với 2 lý do: thứ nhất về mặt thẩm mỹ nhìn thấy không đẹp, thứ hai thuộc về yếu tố tâm linh (nếu phụ nữ có thai đứng hoặc ngồi ngay cửa, ma quỷ sẽ nhìn thấy và sẽ theo “ám” làm cho người phụ nữ ấy bị “thai hành” đến khi sinh). Ngoài ra, người phụ nữ có thai cũng không được đi vào các nhà hàng xóm trong phum sóc một mình. Vì trước đây, nhà cửa trong phum sóc rất thưa (nhiều phum chỉ có vài nóc nhà), cây cối nhiều và có tán lá rất to. Người Khmer quan niệm rằng, cây to là nơi ma quỷ, thánh thần hay trú ngụ ở những nơi ấy. Nếu phụ nữ mang thai đi ngang qua, ma quỷ sẽ hiện ra nhát thậm chí bị “giấu”. Chính vì thế, về mặt tâm lý người phụ nữ Khmer mang thai ngày xưa rất ngại khi đi ra đường.

Trong xã hội lúc bấy giờ, nếu phụ nữ Khmer phát hiện mình có thai họ đều tìm đến các thầy cúng để làm phép trừ tà ma. Thầy cúng làm phép vào những sợi chỉ cho thai phụ đeo vào cổ và quấn ngang bụng cho đến lúc sinh xong mới được cắt bỏ. Quan niệm xưa cho rằng, khi được các thầy cúng làm phép thai nhi sẽ được khỏe mạnh phát triển tốt, thai phụ cũng không bị ốm đau. Trong suốt quá trình mang thai, nếu chỉ bị đứt trước khi sinh con thai phụ phải đến thầy cúng làm phép trừ tà lại.

Trong lúc mang thai, người phụ nữ tuyệt đối đội khăn không được quấn hoặc cột lại (thói quen quấn khăn gọn gàng của nông dân lao động) . Nếu người phụ nữ vẫn quen nếp sinh hoạt hàng ngày, đồng bào Khmer cho rằng thai phụ sẽ bị sinh khó (nhau quấn cổ em bé lúc sinh). Ngoài ra, người chồng của thai phụ cũng phải tạm bỏ thói quen đội khăn khi ra đồng (khăn quấn cổ, khăn cột ngang thắt lưng để dắt dao…). Chính vì thế, phụ nữ mang thai phải cẩn thận trong từng động tác của mình trong sinh hoạt gia đình. Người chồng cũng không được phép làm một số công việc có tính chất “đụt, đẽo…”. Tất cả những điều cấm kỵ trên nếu không thực hiện sợ ảnh hưởng quá trình sinh nở của vợ (sợ sinh khó và làm ảnh hưởng đến sức khỏe của vợ và con).

Vì vậy, đối với phụ nữ mang thai người Khmer rất ưu ái, không được làm nặng hoặc leo trèo. Người mang thai còn đến chùa cầu khấn Reahu cho sinh nở được mau mắn. Vì theo truyền thuyết, Reahu miệng rộng nuốt mặt trăng dễ dàng và nhả ra cũng nhẹ nhàng. Chính vì thế, phụ nữ Khmer tin rằng khi họ cầu xin Reahu sẽ sinh con được dễ dàng. Ở các chùa Khmer đều trang trí môtip Reahu với đầu to, miệng rộng, nhe răng, trợn mắt, hai tay nắm mặt trời hoặc mặt trăng đưa vào miệng.

Thức ăn cho phụ nữ mang thai tuyệt đối không được ăn cay, đắng, mặn, nóng, thức ăn có nhiều mỡ… và không được phép uống rượu. Đây là những loại thức ăn và đồ uống rất độc ảnh hưởng đến thai nhi và làm cho bé khó chịu.

Gần đến ngày sinh, người chồng phải chuẩn bị đầy đủ các vật dụng cần thiết trong lúc sinh và sau khi sinh như: củi, than nằm lửa, thuốc ngâm rượu… Khi đau bụng sinh, người chồng hoặc người thân trong gia đình đi mời mụ về “đỡ đẻ”. Họ là những “mụ vườn”, những người này chưa từng qua trường lớp chỉ biết làm theo “kinh nghiệm”. Chính vì vậy, sản phụ luôn luôn bị những rủi ro đang rình rập trong lúc sinh nở. Người Khmer rất sợ sản phụ bị “krola ph’lơn” và trẻ con sơ sinh thì bị “slac teanh”. Trong gia đình của người Khmer, khi người con gái hoặc đàn bà “hư” người ta thường chửi rủa “mê krola ph’lơn” (có nghĩa là sau này sinh con sẽ bị krola ph’lơn mà chết).

Sản phụ sau khi sinh con, gia đình mời thầy cúng đến đọc thần chú đồng thời lấy chỉ trắng cột quanh chân giường. Ngoài ra, người Khmer còn lấy xương rồng hoặc lá dứa gai treo trước cửa nhà (cửa chính) để xua tà ma. Khi nhìn vào các vật ấy, hàng xóm biết trong nhà có phụ nữ sinh con. Lá dứa được treo đúng 3 ngày thì chủ nhà sẽ lấy xuống. Trong 3 ngày đó, chủ nhà sợ ma quỷ vào sẽ bắt con cháu mình đi nên tìm cách khống chế không cho thế lực này vào. Người Khmer quan niệm ma quỷ rất sợ dứa gai. Hàng xóm láng giềng hay họ hàng thân thuộc nếu nhìn thấy lá dứa gai treo trước nhà, dù có việc cần họ cũng không vào sợ ảnh hưởng đến đứa bé mới sinh.

Khi lá dứa được gỡ xuống, người ngoài hay họ hàng được vào thăm. Nhưng họ hạn chế khen đứa trẻ (Ví như: nó đẹp quá, bụ bẫm, ngủ ngon,… ). Họ cho rằng, khách ra về đứa trẻ ấy sẽ không ngủ, khóc đêm, bệnh tật và hành hạ người mẹ phải thức thâu đêm suốt sáng chăm con. Vì vậy, họ chỉ được phép chê bai đứa trẻ. Vì người Khmer quan niệm rằng: khi ai đó vào thăm sản phụ và đứa bé, nếu nói ra bất kỳ điều gì thì sẽ ứng nghiệm ngay. Nhưng sẽ ngược lại với điều mà người vào thăm nói ra (bé bụ bẫm thì bé sẽ bị bệnh…). Phụ nữ sinh con không được đến nhà ai trong giai đoạn ở cữ. Người Khmer cho rằng người phụ nữ lúc này sức khỏe yếu sau lần “vượt cạn” và cơ thể không sạch sẽ (dơ), không mang đến sự may mắn cho người khác.

Đứa trẻ sau khi sinh được 1 tháng, làm lễ cắt tóc “trả ơn mụ” và làm lễ đặt tên cho bé. Trong thời gian nuôi con, nếu đứa trẻ bị bệnh gia đình thường cúng Arak “cầu xin hết bệnh”.

Khi đứa trẻ được 12 tuổi, nếu là con trai cho vào chùa đi tu để được học chữ và kinh Phật. Quan niệm của người Khmer, con trai đi tu là để báo hiếu cho cha mẹ. Đối với con gái, gia đình người Khmer phải nhờ nhà sư làm lễ “Trận đạm” (Tchen t’an) trước 11 tuổi hay còn gọi là lễ “phá tân” cho các cô gái. Sau khi kết thúc lễ, cha mẹ cô gái phải “xin chuộc” nếu không cô gái ấy sẽ thuộc về nhà sư mãi mãi và không được lấy người nào khác (Lê Hương, 1969, 84).

Khi đã trưởng thành, người con gái Khmer phải chấp hành nghiêm túc tập tục “vào bóng mát”. Các cô gái tự giam mình trong buồng tối 6 tháng để tránh mặt trời và mọi người xung quanh. Trước cửa buồng, cha mẹ cô gái “đánh dấu” cấm không cho ai vào. Trong thời gian này, các cô gái chăm chỉ học may vá, thêu thùa… Trước khi kết thúc giai đoạn này, gia đình cô gái nhờ Acha làm lễ tạ. Trong buổi lễ, có nghi thức “tìm chồng tương lai”. Vị Acha đổ 1 thúng gạo xuống chiếu và vùi vào đó một số vật “tượng trưng” cho người chồng tương lai cho cô gái. Đêm đến, cô gái gối đầu trên đống gạo ngủ. Sáng dậy, cô gái lấy tay thọc vào đống gạo tìm bất kỳ vật gì (không có sự lựa chọn). Vật bắt được tượng trưng cho “bản chất” của người chồng cô gái sau này (bói tương lai). Ví như cô gái bắt phải cái vỏ chai về sau chồng của cô gái sẽ là người nát rượu…(Lê Hương, 1969, 86-87)

Đối với đồng bào Khmer, mùa cưới bắt đầu khi đã thu hoạch xong mùa màng và trước Tết Chol Chnam Thmei. Việc cưới xin là vấn đề quan trọng của cả đời người. Người Khmer cho rằng, mùa màng trúng, thất (được mùa hay mất mùa) có năm nhưng cưới hỏi “sai 1 li đi 1 dặm”. Chính vì thế, muốn dựng vợ gả chồng cho con cái phải “xem kỹ” phẩm hạnh, đạo đức của chàng rễ, nàng dâu và cả gia đình của họ.

Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Hôn nhân thường trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới thường được tổ chức ở bên nhà gái. Sau khi cưới, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua vài năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng nhưng vẫn cư trú bên ngoại (http). Trai gái Khmer khi đến tuổi trưởng thành được tự do yêu đương. Gia đình có con trưởng thành, họ tự tìm hiểu yêu nhau hoặc do mai mối. Nếu được cha mẹ đồng ý thì tiến hành làm lễ cưới. Theo quan niệm của người Khmer, đó là ngày gối đôi. Dân gian thường gọi là ngày “Pi-pea” hay “Apea Piea”. Ngày nay, cộng đồng người Khmer ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long vẫn còn giữ được phong tục lễ cưới giàu bản sắc văn hoá dân tộc. Xưa nay, người Khmer luôn cho rằng cưới xin là nét sinh hoạt truyền thống thuộc lĩnh vực văn hóa dân gian gắn liền với phong tục tập quán của cộng đồng. Đám cưới của người Khmer với nhiều nghi thức bắt nguồn từ truyền thuyết, truyện cổ tích.

Tang ma của người Khmer có phần khác so với cộng đồng cùng sinh sống. Họ không để tang người chết. Người Khmer đồng bằng sông Cửu Long quan niệm rằng, cái chết chưa phải là chấm dứt cuộc sống mà vẫn “sống” ở một thế giới khác. Chính vì thế, người thân trong gia đình chuẩn bị tiễn đưa người chết với nhiều nghi thức phức tạp và con cháu thường xuyên “làm phước”, mang nhiều lễ vật cúng cho chùa và sư sãi. Đồng bào Khmer tin rằng, những lễ vật ấy sẽ theo khói nhang và tiếng kệ lời kinh đến được với cha mẹ cũng như ông bà của họ ở thế giới bên kia. Tùy theo con cháu “trên này” làm phước ít hay nhiều thì cuộc sống “bên kia” của họ sung sướng hay chật vật.

Người Khmer chịu ảnh hưởng khá sâu sắc triết lý nhà Phật “nhân quả luân hồi”. Chính vì thế, họ quan niệm lúc sống phải sống tốt (thường xuyên làm phước, làm nhiều điều tốt, giúp đỡ mọi người,…) sẽ gặp phước và đến lúc chết sẽ được đến “nơi tốt”. Tục ngữ Khmer có câu:

“Ruốt ôi kop – ngop ôi kua”

Có nghĩa là: Sống xứng đáng – chết để tiếng

Hoặc: “Kòm slắp munh rus – Kom rus munh sláp”

Có nghĩa là: Đừng sống trước chết – đừng chết trước sống

Hay còn có nghĩa: Trước khi chết đừng để tiếng xấu cho con cháu

Đối với người Khmer, tục hỏa thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp “Pì chét đẩy” xây cạnh ngôi chính điện trong chùa. Tuy nhiên, những người chết bất đắc kỳ tử như chết đuối, chết dịch bệnh hoặc ít tuổi (trẻ con) đem chôn nơi xa với hòm vỏ như tập tục người Việt (Thạc Nhân, 1966, 62). Đối với đồng bào Khmer, khi trong nhà có người lâm bệnh gần “hấp hối” người thân trong gia đình mời sư sãi về tụng kinh. Lúc lâm chung, tất cả bà con trong họ hàng thân tộc cũng như láng giềng trong phum sóc đều đến để tụng kinh và giúp đỡ. Họ tắm cho người vừa qua đời, thay quần áo và cho xác chết vào quan tài. Sau đó, gia đình nhờ nhà sư xem ngày giờ hỏa táng và làm lễ đưa xác đến hỏa đàn. Lúc đưa quan tài đến hỏa đàn, con cháu theo sau quan tài choàng trên đầu chiếc khăn trắng (người Khmer không để tang như người Việt) khóc lóc kể lể. Đám tang đi cũng có cờ phướn (vải trắng), phu xe… Đến hỏa đàn, nhà sư làm lễ cầu cho linh hồn người chết cùng bà con đi theo linh cữu rồi để quan tài lên hỏa đàn và phát lửa. Thiêu xong, lấy tro xương cho vào tháp nhỏ (chất liệu của tháp tùy thuộc vào khả năng kinh tế của từng gia đình) sau đó để vào tháp lớn ở chùa.

Theo phong tục của người Khmer, xem ngày thiêu xác phải cẩn thận (nhất là ngày thứ 3 trong tuần thì không được lập giàn hỏa). Nếu lập ngày đó, con cháu về sau làm ăn không tốt. Trường hợp đang tiến hành lễ hỏa táng, nếu trời mưa người Khmer cũng tin rằng đó là điềm không lành sẽ mang đến những bất hạnh cho gia chủ và con cháu.

Khi nhắc đến những nét đặc trưng và ấn tượng nhất của văn hóa Khmer thì không thể nào bỏ qua được những phong tục tập quán với những nét độc đáo và khác biệt. Trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, thức ăn chính của người Khmer thường là cơm tẻ hoặc là cơm nếp. Mắm là loại thức ăn được ưa chuộng và gia vị được sử dụng nhiều là vị chua từ quả me và vị cay từ hạt tiêu, tỏi, sả, ớt, cà ri.

Những ngôi nhà truyền thống được người dân Khmer xây dựng theo thiết kế nhà sàn. Ngoài ra, hôn nhân thường do cha mẹ sắp đặt, có sự thỏa thuận của con cái và cưới xin sẽ tải qua 3 bước là làm mối, dạm hỏi, lễ cưới được tổ chức ở bên nhà gái. Trong các lễ tang sẽ có tục hỏa thiêu, sau khi thiêu tro được giữ trong tháp “Pì chét đẩy”, xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Trang phục

Ngoài những phong tục tập quán thì trang phục cũng được xem là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên nét đặc sắc và phong phú cho văn hóa dân tộc Khmer. Những bộ trang phục truyền thống của người dân Khmer đều mang những đặc trưng riêng về tạo hình và phong cách thẩm mỹ độc đáo.

Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm, người có tuổi mặc quần áo bà ba màu đen còn nam giới khá giả sẽ mặc bộ bà ba màu trắng, khăn rằn quấn trên đầu hoặc vắt qua vai. Trong đám cưới, trang phục của chú rể là áo xà rông có màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái  quàng chiếc khăn dài trắng. Cô dâu sẽ mặc váy màu tím hoặc màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống.

Trang phục nam
Thường nhật nam giới trung niên và người già thường mặc bộ bà ba đen, quấn khăn rằn trên đầu. Trong dịp lễ, tết họ mặc áo bà ba trắng, quần đen (hoặc áo đen, quàng khăn quàng trắng chéo ngang hông vắt lên vai trái. Trong đám cưới chú rể thường mặt bộ “xà rông” (hôl) và áo ngắn bỏ ngoài màu đỏ. Ðây là loại áo xẻ ngực, cổ đứng cài cúc, quàng khăn trắng vắt qua vai trái và đeo thêm ‘con dao cưới’ (kầm pách) với ý nghĩa bảo vệ cô dâu. Thanh niên hiện nay khi ở nhà thường không mặc áo và quấn chiếc ‘xà rông’ kẻ sọc.

Trang phục nữ
Cách đây ba, bốn mươi năm phụ nữ Khmer Nam Bộ thường mặc ‘xăm pốt’ (váy). Ðó là loại váy bằng tơ tằm, hình ống (kín). Chiếc váy điển hình là loại xăm pốt chân khen, một loại váy hở, quấn quanh thân nhưng khác nhiều tộc người khác cũng có loại váy này là cách mang váy vào thân. Ðó là cách mang luồn giữa hai chân từ sau ra trước, rồi kéo lên dắt cạnh hông tạo thành như chiếc quần ngắn và rộng. Nếu cách tạo hình váy và một số mô tip hoa văn trên váy có thể có sự tiếp xúc với các tộc người khác thì cách mặc váy này có thể xem là đặc trưng độc đáo của Khơ Me Nam Bộ. Họ thường mặc váy trong những ngày lễ lớn, mỗi ngày mặc một màu khác nhau trong suốt tuần lễ đó. Ðó là loại xăm pốt pha muông.
Ngày nay các loại trên ít thấy, có khả chăng chỉ trên sân khấu cổ truyền mà thôi. Người Khmer có kỹ thuật nhuộm vải đen tuyền bóng lâu phai từ quả mặc lưa để may trang phục. Thường nhật hiện nay người Khmer ảnh hưởng văn hóa Kinh qua trang phục. Trong lễ, Tết lại mặc loại áo dài giống người Chăm. Ngoài ra phụ nữ Khmer còn phổ biến loại khăn Krama dệt ô vuông màu xanh, đỏ trên nền trắng. Ngày cưới các cô dâu thường mặc chiếc xăm pốt hôl màu tím sẫm hay hồng cánh sen, áo dài tăm pông màu đỏ thẩm, quàng khăn chéo qua người, đội mũ pkel plac hay loại mũ tháp nhọn nhiều tầng bằng kim loại hay giấy bồi.

Ẩm thực

Ẩm thực từ lâu đã được xem là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự phong phú chi bản sắc văn hóa Khmer. Ẩm thực không chỉ là một niềm tự hào của những người dân mà nó còn giúp gắn kết mọi người trên đất nước lại với nhau, tạo nên sự tinh hoa và đặc sắc cho nền ẩm thực Việt Nam.

Đặc trưng thú vị của ẩm thực Khmer là đậm vị chua, cay, mặn và mang đậm đà hương vị sông nước. Điểm quanh một vòng những món ăn thuộc được người dân Khmer chế biến bạn sẽ được trải nghiệm sự lạ lẫm, khác biệt nhưng cũng rất đối thú vị đấy.

Cũng giống như dân tộc Kinh, người Khmer cũng có những món ăn được chế biến từ gạo nếp như xôi, chè, bánh tét, bánh ú. o Khmer đó chính là món bún nước lèo đậm đà hương vị mắm prohok ăn kèm với các loại rau và gia vị đặc trưng của dân tộc Khmer.

Dân tộc Khmer là một trong những dân tộc có những nét độc đáo, đa dạng trong văn hóa cũng như trong ẩm thực. Bên cạnh đó, văn hóa Khmer còn được đánh giá là có sự mộc mạc, giản dị và gần gũi với mọi người. Hy vọng qua những thông tin được cung cấp trên bạn sẽ hiểu biết thêm về dân tộc Khmer nhé.

Về Tín ngưỡng, tôn giáo

Đối với đồng bào Khmer, họ luôn quan niệm rằng “vạn vật hữu linh”. Chính vì thế, thần mưa, thần sông, thần rừng,… luôn ngự trị trong tâm thức của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long.

Tín ngưỡng thờ Arak và Neak-ta rất phổ biến. Trước đây, mỗi dòng họ của người Khmer có một Arak hoặc nhiều Arak. Arak được thờ bởi nhiều dòng họ (Arak chua bua: của dòng họ). Các Arak thường thừa kế theo dòng nữ. Những gia đình cùng một bà tổ tính theo phía mẹ đều thờ chung Arak. Khi cúng Arak, điều kiện cần là phải có một người nữ làm rub arak (rub có nghĩa là xác) để cho Arak “nhập” linh hồn (thần nhập xác). Theo đồng bào Khmer, người đóng vai trò “xác” thường là người không bình thường (thông thường là những người có vấn đề về thần kinh). Người này làm “cầu nối” giữa thế giới thần linh với những người bằng xương bằng thịt (Nguyễn Xuân Nghĩa. 1979, 43). Arak không chỉ là thần bảo hộ dòng họ mà theo quan niệm của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long, Arak còn là thần bảo hộ nhà cửa (Arak pteh), thần bảo hộ gia đình (Arak phta), thần bảo hộ đất đai nơi cư trú (Arak phum)…

Arak đi khắp nơi trong phum không cố định chỗ ở như Neak Tà. Arak rất thích màu sắc và sẽ quở phạt những người trong phum không tôn trọng mình bằng những lời nói hoặc hành động vô lễ. Hình phạt đối với những người này là làm cho họ không khỏe mạnh. Trong nhà có người bệnh, người thân thường đi xem bói. Nếu thầy bói cho rằng người bệnh bị Arak quở, gia đình thường nhờ thầy bói xem ngài “ngự” ở đâu và mang lễ vật đến nơi đó cúng vái cầu xin hết bệnh.

Neak Tà là vị thần bảo hộ của một khu vực đất đai của đồng bào Khmer. Tuy nhiên, nguồn gốc của hình thái tín ngưỡng này về nét dị biệt của nó theo địa phương vẫn chưa được thống nhất. Thực chất, thuật ngữ “tà” dùng để chỉ một người đàn ông lớn tuổi. Ông Tà của đồng bào Khmer được ẩn dưới nhiều hình thức: Neak Tà trông coi phum sóc, Neak Tà canh giữ chùa, Neak Tà canh giữ đất đai. Ngoài ra còn có những ông Tà “quan sát” ngã 3 ngã 4 sông. Thông thường, ông Tà hay “ẩn thân” dưới dạng những hòn đá.

Người Việt gốc Miên rất tôn sùng ông Tà. Họ tin rằng những thiên tai như nắng hạn, ngập lụt, bệnh dịch ở thú vật, tai họa đến cho người do sự bất kính của người đối với ông Tà. Vì thế họ tin rằng mỗi khi có chuyện không may xảy đến thì họ phải cúng ông Tà để cầu xin ông bớt giận hoặc che chở cho họ (Lê Hương, 1969, 70). Đối với ông Tà, người Khmer không dám nói những lời thất kính sợ bị “quở phạt”.

Do quan niệm vạn vật hữu linh, người Khmer cũng giống như người Việt đều cho rằng có nhiều ma, quỷ sống lẫn lộn với con người. Người Khmer cho rằng ma quỷ có 2 loại: một là những người chết trẻ, chết bất đắc kỳ tử…; một loại do con người tạo ra để làm những việc đen tối, hại người. Hiện tượng xem bói, lên đồng trong đồng bào Khmer cũng khá phổ với nhiều hình thức công khai và lén lúc. Tuy nhiên, chính quyền địa phương cũng biết được những vấn đề này nhưng vẫn cho qua.

Phật giáo đóng vai trò quan trọng và có vị trí cao nhất trong mọi lĩnh vực của đời sống người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Đa số, họ là Phật tử của Phật giáo Nam tông. Nói cách khác, người Khmer vừa là thành viên của phum sóc (Kon sóc) đồng thời họ cũng là “con Phật” ngay từ lúc họ mới ra đời. Hầu hết, sóc của đồng bào Khmer đều có chùa (mỗi sóc có ít nhất một ngôi chùa Phật giáo). Tuổi thọ của nhiều ngôi chùa lên đến hàng trăm năm tuổi. Ngôi chùa của người Khmer được xây dựng ở vị trí trung tâm của sóc, vừa rộng rãi vừa cao ráo với dáng vẻ sừng sững, nguy nga và tráng lệ. Đó là một quần thể kiến trúc và tiêu biểu cho nghệ thuật văn hóa truyền thống của người Khmer (Nguyễn Xuân Nghĩa, 1984)

Ngôi chùa chính là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của mỗi sóc Khmer. Đây là nơi tu hành của các vị sư sãi, đồng thời còn là nơi những người dân trong sóc đến để nghe các vị sư giảng về kinh Phật. Ngoài ra, bà con trong bổn sóc đến chùa để xin những lời khuyên của các vị sư sãi khi họ bắt đầu một công việc mới cũng như những vấn đề xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Đồng bào Khmer tự nguyện đến chùa để làm công quả góp phần xây dựng và tu tạo ngôi chùa. Chùa Khmer còn là nơi tổ chức những lễ hội lớn trong năm của người Khmer như: lễ mừng năm mới Chol Chnam Thmei, lễ cúng ông bà tổ tiên (Đôn ta) và những nghi lễ Phật giáo. Trong chùa còn có trường học dạy chữ Khmer cho con em người dân Khmer trong sóc. Chùa dạy chữ Pali cho các vị sư sãi để đọc kinh Phật. Nhiều ngôi chùa Khmer còn có thư viện, lưu giữ nhiều sách Kinh Phật và các sách vở về văn hóa truyền thống của người Khmer. Những vị khách quý của phum, sóc sẽ được đón tiếp, chào mừng ngay ở chùa Khmer. Những cuộc hội họp về công việc chung của các thành viên trong sóc cũng thường được tổ chức tại ngôi chùa. Có thể nói, chùa Khmer vừa là trung tâm tôn giáo, trung tâm văn hóa, giáo dục và xã hội của mỗi sóc, phum. Người Khmer đã bỏ nhiều công sức, vật chất để xây dựng ngôi chùa của sóc khang trang và họ tự hào về ngôi chùa của mình.

Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo Nam tông (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được thờ duy nhất và chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú – những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian

Đa phần người Khmer theo Phật giáo Tiểu thừa nên ngôi chùa là nơi thiêng liêng và quan trọng nhất.
Cổng và tường rào bao quanh ngôi chùa được trang trí bằng các hình tượng nghệ thuật kể về sự tích Đức Phật, do các nghệ nhân Khmer thực hiện
Trong không gian chính điện chùa Khmer bài trí nhiều họa tiết tinh tế với bệ
thờ hình một tòa sen để thờ đức Phật bên trên. Tượng Phật Thích Ca được chạm khắc
hài hòa với không gian nội điện, thể hiện sự đa dạng, phong phú về ý nghĩa đạo đức
và vẻ đẹp của Đức Phật
Tết Chôl Chnăm Thmây – Tết vào năm mới của đồng bào Khmer, tổ chức
hàng năm vào các ngày 13, 14, 15 tháng 4 đây là dịp vui chơi, giải trí thắt chặt
tình đoàn kết trong cộng đồng người Khmer.
Nghi thức tắm Phật trong Tết Chôl Chnăm Thmây có ý nghĩa gột rửa những điều không may mắn năm cũ để sang năm mới mọi sự được như ý.
Hàng năm, lễ Dâng Y Kathina được tổ chức tại nơi có các chư tăng an cư trở thành một hoạt động tôn nghiêm, thể hiện tinh thần “Tôn sư, trọng đạo” của người Khmer.
Múa dân gian trong lễ hội truyền thống người Khmer
Một số hình tượng dân gian phản ánh tín ngưỡng của người Khmer.
Cộng đồng Khmer có một cuộc sống vui tươi, đa sắc màu với nhiều hoạt động văn hóa, giải trí sinh động góp phần vào dòng chảy văn hóa đậm đà bản sắc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Hội đua bò Bảy Núi là một nét đẹp văn hóa của đồng bào Khmer, thu hút không chỉ cư dân vùng Bảy Núi, An Giang, mà còn lan tỏa đến các tỉnh thành khác.
Đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào Khmer rất sinh động mang đậm dấu ấn văn hóa riêng, góp phần tạo lên chỉnh thể cho vẻ đẹp văn hóa của bức tranh văn hóa cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.

Về văn hóa dân gian, giáo dục và lễ hội

Văn hóa dân gian, người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười. Bên cạnh đó, họ còn có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo Nam Tông Khmer Nam bộ, ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú – những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Đối với đồng bào Khmer, những ngày lễ quan trọng trong năm cũng chính là những dịp tổ chức các hình thức sinh hoạt dân gian. Ca hát có vần điệu giống như ca dao Việt Nam, thường có hai nhịp mau và chậm. Lối hát được người Khmer ưa thích là hát “azay” cùng với cây đàn cán dài có 2 dây. Điệu múa lâm thôn đặc biệt được đồng bào Khmer yêu thích. Dàn nhạc ngũ âm là nhạc khí đặc trưng của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long.

Vấn đề giáo dục của người Khmer có những nét đặc biệt, đồng bào có một hệ thống văn tự rất sớm. Đa phần, hệ thống giáo dục do các nhà sư trong chùa đảm nhiệm. Người Khmer rất coi trọng việc học tập, nhất là học tiếng dân tộc, kinh Phật theo tiếng Pali (Phan An, 1985, 25).

Lễ hội và phong tục tập quán của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long thường hòa quyện vào nhau. Trong từng lễ (bund) có nhiều nghi thức (pithi). Ở mỗi nghi thức cụ thể đều có sự đan xen giữa yếu tố tôn giáo và tín ngưỡng dân gian. Các lễ hội của người Khmer gắn với sinh hoạt thường ngày. Người Khmer không có sự phân biệt “rạch ròi” giữa phong tục tập quán với lễ hội, các yếu tố lễ và hội quyện vào nhau cho chúng ta thấy sự phong phú của lễ hội dân tộc. Lễ hội của đồng bào Khmer gắn liền với đạo đức, lối sống và ước nguyện của con người trong cuộc sống. Đồng bào thực hiện những nghi lễ mong sao cho quan hệ giữa con người và thiên nhiên tốt hơn.

Nghệ thuật sân khấu Dù Kê: hình thành từ sự rộng lớn của không gian sân, ruộng và sự đa dạng của chất liệu đời sống sinh hoạt thường ngày

Nghệ thuật sân khấu Dù Kê của đồng bào Khmer đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, là loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian. Về tên gọi, Dì Kê và Dù Kê, Dì Kê vốn có nguồn gốc từ Campuchia, trong khi đó Dù Kê lại ra đời ở mảnh đất Nam Bộ mà người Khmer Campuchia gọi là La khon Bassac (sân khấu vùng Bassac) (Tiền Văn Triệu và Dương Hoàng Lộc, 2014). Từ kết quả khảo sát, phỏng vấn sâu, 100% các cụ già Khmer ở hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng đều khẳng định rằng, Dù Kê là loại hình nghệ thuật của riêng người Khmer Nam Bộ. Tuy nhiên, để chứng minh tường tận điều này, cần thêm các công trình nghiên cứu chuyên sâu khác nhằm thu thập các dấu vết, bằng chứng cho thấy sự xuất hiện của nghệ thuật sân khấu Dù Kê trong dân gian tại vùng Nam Bộ.

Vùng đất Nam Bộ thời xưa đất rộng, người thưa, sau những ngày lao động cơ nhọc, người dân tụ tập ca hát, biểu diễn trong sân rộng, trên đồng trống. Hình thức biểu diễn ban đầu rất đơn sơ, nơi biểu diễn là mặt đất bằng phẳng được che chắn giống như cái giàn bầu, vì thế ban đầu Dù Kê còn được gọi là “Sân khấu giàn bầu” (Trần Thị Lan Hương, 2017). Dần dần, sân khấu hoàn thiện hơn khi được dựng bằng thân cây to chắc, trang trí bằng lá dừa, lá chuối, buồng cau,… Chính không gian sinh hoạt rộng rãi và thoáng đạt đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra đời diễn xướng Dù Kê và múa hát cộng đồng (theo lời của ông Thạch C. ngụ tại phường 7, tỉnh Trà Vinh). Trả lời về diện tích rộng lớn của chùa Phật giáo Nam tông, đa số các kiến đều cho rằng, chùa là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật của người Khmer. Cho đến nay, sân khấu diễn xướng Dù Kê vẫn luôn được ưu tiên bố trí trong khuôn viên chùa vào các dịp lễ hội như Chôl Chnăm Thmây (Vào năm mới), Ok-om-bok (Đúc cốm dẹp), Si ma (Kiết giới),.…

Từ thập niên 60 đến nay, một số tác giả, nghệ nhân, văn nghệ sĩ, nhà quản lý nghệ thuật đã nghiên cứu, sưu tầm và nhận định rằng: sân khấu Dù kê là sản phẩm của nông dân, tầng lớp trí thức Khmer sáng tạo ra tại vùng đất Tây Nam Bộ trong sự giao lưu sân khấu Hí kịch của người Hoa và Cải lương của người Kinh (Thạch Chane Vitu, 2014). Tích tuồng của sân khấu Dù kê thường được khai thác từ cốt truyện cổ tích, thần thoại dân gian Khmer. Ngoài ra, Dù Kê còn diễn cả tích tuồng của người Hoa và diễn chung một số vở diễn với sân khấu cải lương.

Tính thích ứng với môi trường sinh sống của loại hình nghệ thuật này chính là ở nội dung kịch bản để chuyển tải các chủ đề quen thuộc với sinh hoạt hàng ngày như ngợi ca cách mạng, yêu quý lao động,… Kịch bản của sân khấu Dù Kê đa dạng và phong phú về các đề tài, từ truyện cổ Riêm Kê (dựa theo cốt truyện Ramayana của Ấn Độ) đến các đề tài dân gian, lịch sử, tôn giáo, xã hội,… và có cả những vở Tuồng tích của người Hoa như Tiết Nhơn Quý, Tam Tạng thỉnh kinh,… hay một số vở từ sân khấu Cải lương như Tấm Cám, Phạm Công – Cúc Hoa, Thạch Sanh – Lý Thông (Trần Thị Lan Hương, 2017). Có thể cho rằng, đây là sự sáng tạo, linh hoạt của người Khmer khi hình thành nên một sản phẩm văn hóa tinh thần của riêng họ trong sự hòa quyện với một số nét văn hóa Kinh, Hoa.

Biểu đồ 1 mô tả chủ đề kịch bản thống kê từ 20 vở diễn Dù Kê của đoàn nghệ thuật Ánh Bình Minh (Trà Vinh) thường xuyên biểu diễn phục vụ cho người dân tại các địa phương vào các dịp lễ hội. Biểu đồ cho thấy, các kịch bản của Dù kê rất đa dạng về chủ đề, trong đó chủ đề về tình yêu quê hương, làng xóm và chủ đề về các mối quan hệ xã hội chiếm tỷ lệ cao. Các kịch bản trãi quát từ các chủ đề dân gian truyền thống (truyền thuyết dân gian) đến cả chủ đề hiện đại (phong trào nông thôn mới). Điều này chỉ ra rằng, môi trường sinh sống luôn có ảnh hưởng quan trọng đến tư tưởng của người Khmer. Trong quá trình phát triển, họ luôn kế thừa, tiếp cận với cái mới nhưng vẫn giữ được cái cốt lõi đó là những quan hệ xã hội và tình yêu thương của con người.

Khi trả lời phỏng vấn về mức độ ưa chuộng với loại hình nghệ thuật Dù Kê, các cụ già người Khmer ở Sóc Trăng và Trà Vinh đều khẳng định sự gần gũi, yêu thích với loại hình giải trí này. Đặc biệt vào các dịp lễ như Chôl Chnăm, các đài phát thanh truyền hình của tỉnh Trà Vinh và tỉnh Sóc Trăng phát sóng liên tiếp các vở Dù Kê. Người dân thưởng thức bằng cách tụ tập gia đình, vừa nghe, vừa gói bánh tét hoặc vào chùa xem diễn hát. Hầu hết các chùa Khmer đều bố trí sân khấu, mở màn bằng các ca khúc nhạc trẻ sôi động, sau đó là vở diễn Dù Kê. Âm hưởng của nghệ thuật Dù Kê đã trở thành thức ăn tinh thần cho người Khmer nói riêng và người dân Nam Bộ nói chung.

Biểu đồ 1. Tỷ lệ các chủ đề kịch bản Dù Kê được trình diễn hiện nay

Cuộc sống ngày nay đã có những ảnh hưởng đến loại hình hoạt động văn hóa Dù Kê. Cụ thể, không gian sinh sống đang ngày càng bị thu hẹp, khán giả xem trực tiếp tại sân khấu (chủ yếu trong sân chùa, nhà văn hóa) giảm dần do họ bận mưu sinh, học tập hoặc quan tâm đến các loại hình giải trí khác. Mặc dù xem tại nhà từ màn hình ti vi trở nên phổ biến hơn, song ngày càng thiếu hẳn dần những phút giây tụ tập gia đình, cùng thưởng thức vở diễn, khen chê diễn viên, trang phục,… Một số nghệ sỹ Khmer đang đề xuất rút ngắn thời gian của một vở diễn, cô đọng các tình tiết sân khấu, trẻ hóa đội ngũ diễn viên,… Nếu như ngày trước, người dân quây quần xem diễn kéo dài hàng giờ liền trên sân rộng, thì ngày nay thời gian xem ngắn hơn, phần lớn các vở diễn kéo dài không quá 30 phút và sân khấu trong hội trường có máy lạnh, quạt mát, ghế ngồi nhằm thu hút khán giả. Có thể khẳng định rằng, thu hẹp không gian địa lý, ảnh hưởng của cuộc sống hiện đại đã dẫn đến những thay đổi, điều chỉnh lớn trong hoạt động văn hóa này.

Lễ cúng Phước Biển: hình thành từ nhu cầu mưu sinh đánh bắt ven bờ

Người Khmer hầu hết theo Phật giáo Nam tông. Họ chọn khu vực gần chùa để làm nhà với tâm niệm được Phật chở che. Mỗi ngôi chùa sẽ chăm lo cho một nhóm Phật tử, chủ yếu theo ranh giới địa lý chứ không phải ranh giới hành chính. Hàng ngày, các hộ gia đình người Khmer cúng dường cho các vị sư đi khất thực. Ngày rằm trong tháng, họ đến chùa để cầu bình an, phước lành. Đáng chú ý, họ rất ít khi vắng mặt trong các sự kiện do chùa tổ chức, đặc biệt là các dịp lễ hội. Họ gắn bó với chùa suốt cuộc đời. Những người do nghề nghiệp mưu sinh phải đi xa, nhưng trong lòng họ luôn khắc khoải, nóng lòng trở về với ngôi chùa thân quen.

Nghề đánh bắt ven bờ của người Khmer Nam Bộ chủ yếu sử dụng một số dụng cụ đánh bắt thô sơ như lưới kéo, xiệp đẩy và ghe thuyền nhỏ để di chuyển. Thông thường, họ rời khỏi nhà vào sáng sớm, trở về nhà vào buổi chiều. Biển trở thành nguồn sống của họ. Để tỏ lòng biết ơn cho sự chở che của biển cả, cầu cho sự bình an, người dân tổ chức lễ hội cúng Phước Biển (cúng phước trên biển). Người Khmer thường tổ chức lễ an vị Phật tại gia, theo ý nguyện và khả năng của hộ gia đình. Họ mời các vị sư đến nhà tụng kinh cầu an, ước nguyện cho sức khỏe, tiền tài, học vấn của các thành viên gia đình. Mặt khác, do quan niệm vạn vật đều mang phước lành nên ngay cả trong đám tang, họ đều ý thức dùng chén cơm với ý nghĩa “hưởng phước của người mất”. Mặc dù biển cả có thể mang tới cho họ những cơn sóng lớn đe dọa tính mạng và gây khó khăn cho họ khi đánh bắt thủy sản gần bờ (càng gần bờ, sóng càng dữ dội), nhưng họ cúng phước biển để hưởng phước mà biển cả mang đến cho cuộc sống của họ. Không riêng người Khmer cúng Phước Biển mà đa số ngư dân thường thờ Phật bà quan âm và cúng biển để được độ trì, được biển che chở.

Kết quả phỏng vấn hồi cố 40 cụ già Khmer về lễ cúng Phước Biển cho thấy, nguồn gốc hình thành lễ cúng này không được xác định rõ ràng. Các cụ đều nghe kể về câu chuyện một nhà sư Khmer tên là Ta Hu (cụ Hu) ngày trước dựng một ngôi tháp đơn giản trên khu giồng cát ven biển, nơi xác cá voi thường trôi dạt vào để đồng bào phật tử đến thắp hương, thành tâm chiêm bái. Sự việc xảy ra vào thời điểm trời yên, biển lặng, ngư dân đi biển về thuyền đầy ắp cá tôm. Biển vẫn còn đó, nhu cầu sinh sống hàng ngày đang tăng dần, chính vì thế lễ cúng Phước Biển ở khóm Cà Lăng A Biển, Phường 2, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng ngày càng đông đúc. Hiện nay, tại nơi làm lễ cúng, người dân đã cùng nhau xây ngôi tháp Chrôy Rum Chêk – một khu tháp khá lớn có mái che kiên cố, nằm trên khu đất cát ven biển tại khóm Cà Lăng A Biển. Hàng năm, lễ cúng được tổ chức hoành tráng với đám rước từ chùa Serey Kro Săng đến ngôi tháp Chrôy Rum Chêk. Lễ cúng Phước Biển được người Khmer gọi là Bân Chrôy Rum Chêk (tạm hiểu là Lễ cúng ở khu vực cây dứa dại) vì theo các cụ ở Sóc Trăng cho biết, hồi trước, khu vực cúng phước đầu tiên là một khu dứa dại mọc rất nhiều, “rậm rạp như rừng” (Ông Kim T. cư ngụ tại phường 2, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng). Khi được hỏi về giá trị sử dụng của cây dứa dại trong lễ cúng Phước Biển thì 8 cụ Khmer ở Sóc Trăng đều khẳng định là không sử dụng gì, lễ cúng mang tên cây dứa dại chỉ vì khu vực này có nhiều dứa dại mọc. Đối với 20 cụ Khmer Trà Vinh, họ đều quan tâm đến lễ cúng Phước Biển Chrôy Rum Chêk tại Sóc Trăng nhưng 3 người trong số họ chưa từng đến nơi tổ chức lễ. Lý do là phương tiện đi lại không thuận lợi mặc dù trong tâm niệm, họ mong muốn đến. Đặc biệt, tất cả các cụ đều cho rằng, đây là hoạt động văn hóa chỉ có ở người Khmer Nam Bộ, “người Khmer Campuchia chủ yếu đánh bắt theo dòng Mekong, biển họ ít nên không có nhiều lệ thuộc vào biển” (Theo lời của hai cụ Khmer, ông Thạch Sa P. ở Trà Vinh và ông Kim R. ở Sóc Trăng). Điều này phù hợp với thực tế rằng, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có chiều dài bờ biển trên 700 km, chiếm khoảng 1/5 tổng chiều dài bờ biển nước ta (3,444 km) và dài hơn so với Campuchia (443km).

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*