✅ 76+ Đề thi Ngữ Văn lớp 6 học kì 1 (Có đáp án) ⭐️⭐️⭐️⭐️⭐️

5/5 - (1 bình chọn)

Mục Lục

10 Đề thi Học kì 1 Ngữ văn lớp 6 Kết nối tri thức có đáp án

10 Đề thi Học kì 1 Ngữ văn lớp 6 Cánh diều có đáp án

10 Đề thi Học kì 1 Ngữ văn lớp 6 Chân trời sáng tạo có đáp án

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 1 thi Học kì 1

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (2,0 điểm)

Đọc đoạn văn dưới đây và khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng cho mỗi câu hỏi:

“Trong hang Én, hàng vạn con chim én vẫn hồn nhiên cư ngụ và chưa phải biết sợ con người. Bốn vách hang, trần hang – nơi nào cũng dày đặc chim én. Cộng đồng én thoải mái sống “cuộc đời” của chúng, không mảy may để ý đến sự hiện diện của nhóm du khách. Én bố mẹ tấp nập đi, về, mải mốt mớm mồi cho con; én anh chị rập rờn bay đôi; én ra ràng chấp chới vỗ cánh bên rìa hốc đá,… Nhiều bạn én thiếu niên ngủ nướng, say giấc ngay trên những mỏm đá thấp dọc lối đi. Nếu đặt lên vai, bạn sẽ rúc vào tóc hoặc đậu trên đầu mình để… ngủ tiếp!” 

(Trích Hang Én, Hà My, Ngữ văn 6, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2021) 

Câu 1. Đoạn văn trên giúp em khám phá được hình ảnh nào?

A. Sự chăm sóc của con người dành cho gia đình én. 

B. Cuộc du ngoạn của khách tới thăm hang Én. 

C. Cuộc sống của chim én trong hang.

D. Sự sống của con người và én trong hang. 

Câu 2. Tác dụng của dấu ngoặc kép trong câu: “Cộng đồng én thoải mái sống “cuộc đời” của chúng, không mảy may để ý đến sự hiện diện của nhóm du khách” nhằm nhấn mạnh điều gì? 

A. Loài én cũng có cuộc đời như những con vật khác. 

B. Loài én cũng có đời sống như con người. 

C. Hãy trân trọng cuộc đời của loài chim én. 

D. Loài én cũng cần sự tự do trong cuộc đời của mình.

Câu 3. Biện pháp tu từ nhân hóa trong câu văn: “Én bố mẹ tấp nập đi, về, mải mốt mớm mồi cho con; én anh chị rập rờn bay đôi; én ra rang chấp chới vỗ cánh bên rìa hốc đá,…” có tác dụng gì? 

A. Giúp người đọc hình dung được cảnh sinh sống của loài én. 

B. Tái hiện sinh động cuộc sống tấp nập của gia đình loài én. 

C. Thể hiện khả năng dùng từ ngữ linh hoạt của tác giả.

D. Cả 3 phương án A, B và C. 

Câu 4. Việc đến khám phá những nơi xa sẽ mở rộng tầm hiểu biết cho chúng ta. Theo em, hành trình đó còn đánh thức những điều gì ở con người? 

A. Sự hiểu biết về loài én 

B. Giúp tinh thần sảng khoái 

C. Tinh thần trách nhiệm với công việc hằng ngày

D. Tình yêu thiên nhiên, đất nước và sự trân trọng những giá trị của cuộc sống

PHẦN II. VĂN HỌC VÀ CUỘC SỐNG (8,0 điểm) 

Câu 1 (1,0 điểm). Hãy nêu hiểu biết của em về thể loại du kí? Nêu tên một tác phẩm khác Hang Én) có cùng thể loại đó. 

Câu 2 (2,0 điểm). Việc trải nghiệm và ghi chép lại những kiến thức sẽ trở thành tư liệu quý giá của riêng mỗi người. Trong văn bản Hang Én, tác giả đã chia sẻ những cảm nhận của mình về cuộc sống hoang dã của loài én. Theo em, điều đó có ý nghĩa như thế nào? 

Câu 3 (5,0 điểm). Trong văn bản Hang Én, tác giả đã viết về những trải nghiệm của mình, miêu tả khung cảnh thiên nhiên, sinh hoạt và những con người mình đã gặp gỡ. Cuộc sống thật phong phú biết bao. Em hãy quan sát và miêu tả lại một khung cảnh ấn tượng mà em từng trải nghiệm qua những chuyến đi của mình.

ĐÁP ÁN

Phần I (2,0 điểm). 

Mỗi câu trả lời đúng cho 0,5 điểm. 

Câu 1. C 

Câu 2. B 

Câu 3. D 

Câu 4. D 

Phần II (8,0 điểm) 

Câu 1 (1,0 điểm) 

– Du kí là thể loại kí ghi chép về những chuyến đi tới một vùng đất, xứ sở nào đó. Người viết kể lại hoặc miêu tả những điều mắt thấy, tai nghe trong hành trình của mình.

– Văn bản cùng thể loại: Cô Tô. 

Câu 2 (2,0 điểm)

– Cách viết của tác giả khiến bạn đọc ấn tượng, thích thú, hình dung được cuộc sống và khung cảnh thiên nhiên kì bí, sinh động và phong phú ở hang Én. 

– Mở rộng vốn hiểu biết, khả năng tìm tòi, khám phá cho mỗi người. 

– Khơi gợi ý thức bảo vệ môi trường, thiên nhiên hoang dã,… 

– Khơi dậy trong chúng ta tình yêu quê hương đất nước,… Cách chia sẻ ấy không làm chúng ta sợ hãi và sống xa thiên nhiên mà khơi gợi trong ta sự hứng thú muốn khám phá thiên nhiên quanh mình. 

Câu 3 (5,0 điểm) 

Gợi ý: bài văn cần đảm bảo:

* Hình thức: 

– Đúng hình thức bài văn có bố cục 3 phần. 

– Diễn đạt rõ ràng, lưu loát, không mắc các lỗi về chính tả.

* Nội dung: Học sinh trình bày sáng tạo trải nghiệm và miêu tả lại những điều đó. 

– Mở bài: Giới thiệu được cảnh ấn tượng mà em từng trải nghiệm qua những chuyến đi. 

– Thân bài: 

+ Tả bao quát quang cảnh (không gian, thời gian, hoạt động chính,…). 

+ Tả những hoạt động, cách sinh hoạt của con người, con vật nơi đó. 

+ Dùng từ ngữ phù hợp, các hình ảnh so sánh, nhân hoá để miêu tả những cảnh ấn tượng trong chuyến trải nghiệm.

– Kết bài: Nêu cảm nghĩ, ấn tượng của em về khung cảnh em được trải nghiệm.

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 2 thi Học kì 1 – Cánh diều

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Phần 1: Đọc hiểu (6 điểm) 

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

NHỮNG ĐIỀU BỐ YÊU

Ngày con khóc tiếng chào đời

Bố thành vụng dại trước lời hát ru

Cứ “À ơi, gió mùa thu”

“Con ong làm mật”, “Mù u! bướm vàng”…

Sau yêu cái chỗ con nằm

Thơm mùi sữa với chiếu thâm mấy quầng

Yêu sao ngang dọc, dọc ngang

Những hàng tã chéo mẹ giăng đầy nhà.

Thêm yêu dìu địu nước hoa

Khi con muỗi đốt, bà xoa nhẹ nhàng

Và yêu một góc mặt bàn

Mèo con, chút chít xếp hàng đợi chơi.

Yêu ngày con gọi “Mẹ ơi”

Bước đi chập chững, mặt trời nhòm coi

Bao ngày, bao tháng dần trôi

Khắp nhà đầy ắp tiếng cười của con.

Để khi con vắng một hôm

Bố ngơ ngần nhớ, quên cơm bữa chiều.

Con ơi có biết bao điều

Sinh cùng con để bố yêu một đời.

(NGUYỄN CHÍ THUẬT,

Báo Giáo dục và Thời đại Chủ nhật, số 35, 1999)

Ghi lại chữ cái đứng trước phương án trả lời đúng cho mỗi câu hỏi (từ câu 1 đến câu 9):

Câu 1. Bài thơ “Những điều bố yêu” được viết theo thể thơ nào?

A. Thể thơ tự do

B. Thể thơ lục bát

C. Thể thơ năm chữ

D. Thể thơ bốn chữ

Câu 2. Bài thơ là lời bày tỏ cảm xúc của ai?

A. Người bố

B. Người con

C. Người mẹ

D. Người bà

Câu 3. Cách ngắt nhịp nào thể hiện đúng nghĩa của khổ thơ?

A. Ngày con khóc tiếng chào đời /

Bố thành vụng dại / trước lời hát ru

Cứ “À ơi, / gió mùa thu”

“Con ong làm mật”, / “Mù u bướm vàng”…

B. Ngày con / khóc tiếng / chào đời

Bố thành / vụng đại / trước lời / hát ru

Cứ “À /ơi, gió / mùa thu”

“Con ong /làm mật”, / “Mù u /bướm vàng”…

C. Ngày con / khóc tiếng chào đời 

Bố thành / vụng dại trước lời hát ru

Cứ “À /ơi, gió mùa thu” 

“Con ong làm mật, / “Mù u bướm vàng”…

D. Ngày con khóc tiếng / chào đời

Bố thành vụng dại trước lời / hát ru

Cứ “À ơi, gió mùa thu” /

“Con ong làm mật, / “Mù u bướm vàng”…

Câu 4. Điệp từ nào được sử dụng trong bài thơ để thể hiện trực tiếp tình cảm mà tác giả muốn bộc lộ?

A. Con

B. Bao

C. Bố

D. Yêu

Câu 5. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì trong dòng thơ “Khắp nhà đầy ắp tiếng cười của con”?

A. So sánh

B. Nhân hoá

C. Ấn dụ

D. Liệt kê

Câu 6. Hai dòng thơ nào nói được tất cả những điều mà người bố yêu?

A. Ngày con khóc tiếng chào đời

Bố thành vụng dại trước lời hát ru.

B. Và yêu một góc mặt bàn

Mèo con, chút chít xếp hàng đợi chơi.

C. Yêu ngày con gọi “Mẹ ơi”

Bước đi chập chững, mặt trời nhòm coi. 

D. Con ơi có biết bao điều

Sinh cùng con để bố yêu một đời.

Câu 7. Trong khổ thơ thứ nhất, những tiếng nào được gieo vần với nhau?

A. Đời – lời; ru – thu – u

B. Đời – ru; thu – u – vàng

C. Chào – hát; ru – thu – u

D. Đời – lời; hát – thu – u

Câu 8. Bài thơ “Những điều bố yêu” có điểm gì khác với bài thơ “À ơi tay mẹ” (Bình Nguyên) và “Về thăm mẹ” (Đinh Nam Khương)?

A. Viết về tình cảm gia đình

B. Viết theo thể thơ lục bát

C. Diễn tả tâm trạng của người cha

D. Thể hiện tình cảm sâu nặng

Phần 2: Tạo lập văn bản (4 điểm) 

Viết một đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ: “Những điều bố yêu”. 

ĐÁP ÁN

Phần 1: Đọc hiểu (6 điểm) 

Mỗi câu trả lời đúng được 0,75 điểm. 

Câu12345678
Đáp ánBAADCDAC

Phần 2: Tạo lập văn bản (4 điểm) 

– Tạo lập đoạn văn 5-7 dòng phát biểu cảm nghĩ về bài thơ. 

– Nội dung đoạn văn cần nêu được cảm nghĩ cụ thể của học sinh về bài thơ và nêu lí do vì sao bài thơ đem lại cảm nghĩ đó cho bản thân. 

* Đoạn văn mẫu: 

Bài thơ là lời thủ thỉ tâm tình của cha muốn gửi con. Ngày con sinh ra đời là ngày cha hạnh phúc nhất. Ngày con còn bé, bố mẹ yêu thương luôn quan tâm dõi theo từng bước con đi, hạnh phúc khi thấy con chập chững bước đi, vui ngày con cất tiếng nói đầu tiên chào đời. Với cha, con là món quà vô giá cho bố mẹ, có con gia đình đầm ấm hạnh phúc sum vầy. Xa con một chút thôi cũng đủ khiến bố ngẩn nhơ nhớ, mong chờ. Đọc bài thơ con thấy ấm áp trong lòng, nghẹn ngào tình cha, tình mẹ luôn dành những điều tốt đẹp, sánh bước cùng con trên bước đường đời.

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 3 thi Học kì 1 – Chân trời sáng tạo

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Phần I: ĐỌC HIỂU VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (3 điểm)

Câu 1. Những đặc điểm nào dưới đây thuộc thể loại truyện đồng thoại?

a. Là thể loại văn học dành cho thiểu nhi.

b. Nhân vật là loài vật.

c. Nhân vật là dũng sĩ.

d. Nhân vật thường gắn với lịch sử và là người có công lớn đối với cộng đồng.

đ. Nội dung phản ánh các đặc điểm sinh hoạt của loài vật, qua đó, tác giả gửi gắm một thông điệp có ý nghĩa.

Câu 2. Truyện Cô Gió mất tên (SGK Ngữ văn 6, tập mội) được kể theo ngôi thứ mấy? Dựa vào đâu mà em xác định được?

Câu 3. Tìm và chỉ ra tác dụng của những phép so sánh có trong các đoạn văn sau:

a. Đôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ gãy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. Đôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã. Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc.

(Tô Hoài, Bài học đường đời đầu tiên)

b. Tôi hiểu, khu vườn là món quà bất tận của tôi. Mỗi một bông hoa là một món quà nhỏ, một vườn hoa là món quà lớn.

(Nguyễn Ngọc Thuần, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ)

Phần II: VIẾT (7 điểm)

Câu 1. Sau khi đọc VB Giọt sương đêm (SGK Ngữ văn 6, tập một), em hãy viết một đoạn văn khoảng 150 chữ kể tiếp câu chuyện của Bọ Dừa khi về quê.

Câu 2. Sau kì nghỉ hè, chắc hẳn em đã có thêm nhiều trải nghiệm mới. Hãy viết một bài văn kể lại trải nghiệm đáng nhớ của em trong mùa hè vừa qua để chia sẻ với các bạn cùng lớp.

ĐÁP ÁN

Phần I: ĐỌC HIỂU VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (3 điểm)

Câu 1. 

Đáp án a, b, đ

Câu 2

Chuyện được kể theo ngôi thứ 3. Căn cứ: người kể chuyện không xưng tôi, là người kể chuyện giấu mình.

Câu 3

a. Phép so sánh có trong đoạn văn: “Những ngọn cỏ gãy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua; Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc”. 

– Tác dụng: Những phép so sánh trên làm cho câu văn thêm sinh động, gợi tả, giúp người đọc hình dung rõ hơn về sức vóc cường tráng của Dế Mèn; đồng thời thể hiện thái độ kiêu căng, hợm lĩnh của Dế Mèn qua những hình ảnh so sánh ấy.

b. Phép so sánh có trong đoạn văn: “Khu vườn là món quà bất tận của tôi”, “Mỗi một bông hoa là một món quà nhỏ, một vườn hoa là mớn quà lớn.”. 

– Tác dụng: Phép so sánh ấy góp phần giúp người đọc hình dung rõ hơn về giá trị của thiên nhiên đối với cuộc sống của nhân vật “tôi”.

Phần II: VIẾT (7 điểm)

Câu 1. 

HS tự thực hiện dựa trên kết quả đọc hiểu VB Giọt sương đêm. Khi viết đoạn văn này, HS cần lưu ý:

– Có thể chọn kể tiếp câu chuyện của Bọ Dừa theo ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ nhất (đóng vai Bọ Dừa để kể).

– Nội dung kể là câu chuyện của Bọ Dừa sau khi về quê. HS có thể sáng tạo nội dung kể tuy nhiên nội dung ấy cần có sự liên quan chặt chẽ, phù hợp, liền mạch với nội dung của VB Giọt sương đêm đã được trình bày trong SGK.

* Gợi ý: Sau khi từ biệt Thằn Lằn, tôi lên đường trở về với quê hương yêu dấu. Đã từ lâu lắm rồi kể từ ngày tôi quyết định rời xa quê đi làm ăn xa tôi chưa có dịp quay trở lại thăm nhà, thăm bố mẹ tôi. Cuộc sống khó khăn, công việc bận rộn, mải mê làm ăn mà tôi quên khuấy đi tất cả. Không biết giờ này gia đình tôi sống ra sao, bố mẹ có khỏe không, anh em có cuộc sống như thế nào. Cứ nghĩ đến đây là lòng tôi lại sốt sắng, bước nhanh chân để về cho thật sớm. Dù trong lòng vội vã nhưng tôi cũng kịp nhìn ngắm mọi vật xung quanh trên đường về nhà. Trời hôm nay thật đẹp, mây gợn trên bầu trời xanh và cao, gió hiu hiu thổi, nắng vàng ươm trải dài khắp muôn nơi. Tôi cứ đi mãi, đi mãi….cuối cùng cũng về đến đầu ngõ khi trời vừa sẩm tối. Lúc này, tôi cố gắng chạy thật nhanh trở về nhà. Cảnh vật quanh nhà tôi đã khác rất nhiều sau ngần ấy năm tôi ra đi, tôi thấy bố mẹ đứng trước cửa nhà nhưng còn xúc động chưa dám chạy vào…..

Câu 2. 

HS có thể tự thực hiện bài viết theo các bước gợi ý trong Ngữ văn 6, tập một, Chân trời sáng tạo. Cụ thể là:

Bước 1: Chuẩn bị trước khi viết

– Xác định đề tài bằng cách trả lời những câu hỏi như: “Mùa hè vừa qua, em có trải nghiệm nào đáng nhớ nhất?”.

– Thu thập tư liệu bằng cách nhớ lại trải nghiệm đáng nhớ nhất của em, đọc lại những câu chuyện trong bài học Những trải nghiệm trong đời để học cách các tác giả kể trải nghiệm của họ, tìm những hình ảnh đã lưu giữ có liên quan đến câu chuyện.

Bước 2: Tìm ý và lập đàn ý

– Tìm ý bằng cách: HS tìm ý bằng sơ đồ hướng dẫn trong SGK.

– Lập dàn ý: HS lập dàn ý theo hướng dẫn trong SGK.

Bước 3: Viết bài

Dựa vào dàn ý, viết một đoạn văn hoàn chỉnh. Khi viết, cần bảo đảm các yêu cầu đối với kiểu bài Kể lại một trải nghiệm của bản thân.

Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm

Dựa vào bảng kiểm trong SGK Ngữ văn 6, tập một để điều chỉnh bài viết.

* Bài văn mẫu:

Kỳ nghỉ hè vừa qua, em cùng gia đình đi tham quan vịnh Hạ Long. Đã lâu lắm rồi em mới có một kì nghỉ hè thoải mái như thế này.

Để chuẩn bị cho chuyến đi em đã sắp xếp quần áo, đồ ăn uống… từ ngày hôm trước. Ô tô khởi hành từ lúc 5 giờ 30 sáng, gia đình em đã có mặt tại điểm tập trung từ lúc năm giờ. Cứ tưởng mình đến sớm hơn cả không ngờ đã có nhiều gia đình khác đến trước, bố em cầm trên tay chiếc túi du lịch to, mẹ thì cầm túi đồ ăn uống, còn em và bé Mi khoác trên vai chiếc ba lô nhỏ xíu đựng một số thứ lặt vặt. Dọc đường bộ từ Hà Nội đến Quảng Ninh, trước mắt em là cả một bức tranh sơn thuỷ hùng vĩ đầy cảm xúc. Ô tô luồn lách qua những chiễ cầu và núi đá nhỏ, sau hơn một tiếng thì đoàn du lịch bắt đầu xuống se để đi tàu thuỷ tham quan các hang động. Từ những vòm đá cao nhất rủ xuống những dải thạch nhũ cột băng pha trộn đủ mọi màu sắc của cầu vồng, em nghe nói hang đẹp nhất là hang Đầu gỗ. Đây là cung điện với nhiều gian phòng ngoắt ngoéo, chỉ một giọt nước nhẹ rơi xuống từ những dải nhũ đá cũng đủ phá vỡ sự im lặng.

Thế là cả buổi sáng, em cùng gia đình chỉ tham quan hang động, mọi người bắt đầu chụp nhanh cảnh đẹp ở đây rồi vội vàng lên xe đến nhà nghỉ. Cả đoàn xuống xe lấy hành lý của mình chờ bác trưởng đoàn liên hệ phòng nghỉ, có những bé chỉ khoảng tầm lớp hai, lớp ba chạy lon ton ở vườn hoa. Riêng bé Mi thì nghịch nhất tí thì lại đuổi bạn làm cho mẹ nhắc nhở liên tục nhưng nó chẳng nghe, cứ thích nô đùa chạy nhảy với các bạn. Chà! Sao bác trưởng đoàn liên hệ gì mà lâu thế, cả đoàn đang định vào gặp thì từ xa, mấy anh hướng dẫn viên đã cầm chìa khoa phát cho từng người.

Buổi chiều cả nhà em ra vườn hoa chụp ảnh làm kỷ niệm rồi lên núi ngay gần nhà nghỉ “Thăng Long” ngắm cảnh, mẹ bảo cả nhà chụp mấy pô nhân lúc trời đẹp, riêng em và bé Mi được chụp riêng hai kiểu. Chụp xong, cả nhà ra chợ mua ca, tôm gọi là đực sản nghỉ hè. Chà! Chợ Hạ Long sầm uất hơn cả Hà Nội. Ngay từ đầu chợ hàng loạt quầy bán dưa hấu, cá tôm, thịt… được xếp bày hàng chào khách. Nhưng gian tôm, cá là gian đông nhất vì ở đây phần lớn khách du lịch muốn mua quà nhân dịp đi nghỉ mát. Em và mẹ quan sát hàng quần áo trẻ em cạnh quầy bánh kẹo thì khá đông người mua nhất là những bác phụ huynh mua cho con mình mặc. Có hai em chạy lăng nhăng nên bị mẹ mắng, thấy vậy em liền bảo mẹ phải trông bé Mi cẩn thận kẻo lại bị lạc. Buổi tối, những chiếc đèn thắp sáng mọi nơi, em cùng mẹ và bé Mi ra ăn chè ở quán, cạnh khách sạn nơi mà gia đình em đang ở. Còn bố thì đọc báo, xem tivi ở phong nghỉ.Thời gian trôi qua, cả đoàn bắt đầu lên đường về Hà Nội.

Sức hấp dẫn của vịnh Hạ Long đã khiến cho nới đây quanh năm luôn là điểm hội tụ của khách du lịch trong và ngoài nước. Mọi người đều đến đây tham quan, nghỉ ngơi, tắm biển… Ai cũng thấy khoan khoái, hài lòng trước vẻ đẹp kì quan của thế giới.

Đề 4 thi học kì 1 lớp 6 Ngữ Văn

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

Con chào mào đốm trắng mũi đỏ

Hót trên cây cao chót vót

triu … uýt … huýt … tu hìu

Câu 1: Đoạn thơ trên nằm trong văn bản nào? Do ai sáng tác? Nêu xuất xứ của văn bản? Bài thơ được làm theo thể thơ nào?

Câu 2: Trong bài thơ tác giả còn lặp lại câu thơ:

triu … uýt … huýt … tu hìu

Việc lặp lại đó có dụng ý gì?

Câu 3: Hãy nêu những suy nghĩ của em khi đọc những câu thơ trên bằng một đoạn văn ngắn.

II. THỰC HÀNH VIẾT:

Câu 1: Trong truyện Gió lạnh đầu mùa có nhiều nhân vật. Em hãy viết đoạn văn về một nhân vật mà em yêu thích. Trong đoạn văn có sử dụng cụm tính từ.

Câu 2: Tả lại cảnh sum họp của gia đình em.

Đáp án Đề thi cuối kì 1 lớp 6 môn Ngữ văn

Phần

Nội dung

Điểm

Đọc hiểu

Câu 1 ( 1đ):

– Văn bản: Con chào mào của tác giả Mai Văn Phấn

– Xuất xứ: Bài thơ Con chào mào được trích trong Bầu trời không mái che, NXB Hội nhà văn, 2010.

– Thể loại: Thơ tự do

Câu 2( 1đ):

Câu thơ : triu … uýt … huýt … tu hìu đã được tác giả viết ở dòng thứ ba của bài thơ. Đến dòng thứ 15 của bài thơ, tác giả đã lặp lại câu thơ này. Đây là sự tinh tế của tác giả trong việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh cho bài thơ. Việc lặp lại này tác giả muốn nhắc rằng con chào mào đã đi qua một hành trình đơn lẻ tới hòa nhập, từ âm vực có phần lảnh lót, chói gắt trên cây cao chót vót đến phối bè, vang vọng khi đã được mổ những con sâu ăn trái cây chín đỏ và uống từng giọt nước, thanh sạch của tôi.

Câu 3 ( 1đ):

Bài thơ Con chào mào là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Mai Văn Phấn thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu loài vật của tác giả. Con chào mào là hình tượng trung tâm của bài thơ.Với nỗi đặc tả gần, khá kỹ, nhà thơ khắc họa hình dáng con chào mào ngay để câu thơ mở đầu Con chào mào đốm trắng mũi đỏ . Hình ảnh con chào mào hiện lên trước mắt người đọc thật sinh động, đáng yêu. Đặc biệt với ngòi bút tài tình, sáng tạo tác giả đã đưa đến cho người đọc một cảm giác thật thú vị khi nghe tiếng hót của con chào mào triu … uýt … huýt … tu hìu. Tiếng hót của chim phải chăng là tiếng lòng, là sự thổn thứt của tác giả trước cảnh thanh bình, tươi đẹp của thiên nhiên.

0,5

0,25

0,25

1,0

1,0

Thực hành viết

Câu 1 (2đ):

Học sinh lựa chọn một trong các nhân vật mà em yêu thích (mẹ Sơn, Sơn, Hiên, Mẹ Hiên )

– Trong đoạn văn cần thể hiện được các ý sau:

+ Vì sao em lại yêu thích nhân vật đó.

+ Nhân vật đó có đặc điểm gì nổi bật (về hình dáng, hành động, nội tâm, cách ứng xử …)

+ Có thể chọn một vài chi tiết mà tác giả miêu tả về nhân vật để minh chứng cho điều em viết về nhân vật.

0,5

0,5

1,0

Câu 2 ( 5đ):

– Về hình thức: bài văn cần có 3 phần rõ ràng mở bài, thân bài và kết bài.

– Về nội dung:

1. Mở bài

– Thời gian: vào buổi tối cuối tuần.

– Không gian:ngôi nhà của em.

– Nhân vật: Những người thân trong gia đình.

2. Thân bài

– Cách bài trí trong nhà, dưới bếp. (Chú ý các chi tiết, hình ảnh có liên quan đến Tết)

– Không khí chuẩn bị ra sao? (Mọi người trong gia đình cùng nhau chuẩn bị… )

– Bàn ăn (hay mâm cơm) có những món gì?

– Bữa ăn diễn ra đầm ấm, vui vẻ như thế nào?

– Sau bữa ăn, mọi người làm gì? (uống nước, chuyện trò tâm sự…)

3. Kết bài

– Cảm động và thích thú.

– Mong có nhiều dịp được sum họp đầy đủ với người thân.

– Nhận ra rằng gia đình quả là một tổ ấm không thể thiếu đối với mỗi con người.

0,5

0,5

0,75

0,75

0,75

0,5

0,75

0,5

Đề 5 thi học kì 1 lớp 6 Ngữ Văn

I. Đọc hiểu

a. Đọc đoạn thơ sau và chọn một phương án trả lời đúng cho mỗi câu hỏi (từ câu 1 đến câu 6):

Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!

Nhớ Người những sáng tỉnh sương

Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi rừng núi trông theo bóng Người…

(Trích Việt Bắc – Tố Hữu)

Câu 1. Câu nào sau đây nêu không đúng đặc điểm của đoạn thơ trên?

A. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ lục bát.

B. Đoạn thơ trên có các tiếng cuối dòng lục vần với tiếng thứ sáu dòng bát.

C. Đoạn thơ trên có các tiếng cuối dòng bát trước vần với tiếng cuối dòng lục sau.

D. Đoạn thơ trên có các tiếng cuối dòng lục vần với tiếng cuối của dòng bát.

Câu 2. Từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần có tác dụng gì?

A. Làm nổi bật hình ảnh Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc

B. Thể hiện tình cảm của Bác Hồ với người dân Việt Bắc

C. Thể hiện sự gắn bó của Bác Hồ với chiến khu Việt Bắc

D. Thể hiện tình cảm lưu luyến của người dân Việt Bắc với Bác Hồ

Câu 3. Phương án nào nêu đúng các từ đồng nghĩa trong đoạn thơ trên?

A. Mình, Bác, Ông Cụ

B. Bác, Ông Cụ, Người

C. Mình, Bác, Người

D. Mình, Ông Cụ, Người

Câu 4. Dòng thơ nào chứa từ láy?

A. Nhớ chân Người bước lên đèo

B. Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!

C. Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

D. Người đi rừng núi trông theo bóng Người

Câu 5. Phương án nào nêu đúng ý nghĩa mà đoạn thơ trên muốn làm nổi bật?

A. Tình cảm của Bác Hồ đối với người dân Việt Bắc

B. Nỗi nhớ da diết của người dân Việt Bắc đối với Bác Hồ

C. Niềm tự hào của người dân Việt Bắc về Bác Hồ

D. Niềm tin của người dân Việt Bắc đối với Bác Hồ

Câu 6. Biện pháp nghệ thuật nào thể hiện được nỗi nhớ da diết của người dân Việt Bắc đối với Bác Hồ?

A. Sử dụng các từ ngữ và hình ảnh đẹp

B. Sử dụng nhiều tính từ và động từ

C. Sử dụng biện pháp điệp từ “nhớ”

D. Sử dụng nhiều vần bằng trong các câu thơ

b. Đọc đoạn trích sau và chọn một phương án trả lời đúng cho mỗi câu hỏi ( từ câu 7 đến câu 9)

27-1-1973: KÍ HIỆP ĐỊNH PA-RI (PARIS) CHẤM DỨT CHIẾN TRANH, LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM

Báo Nhân Dân số ra ngày Chủ nhật 28-1-1973 đã in trên trang nhất những dòng chữ to, nét đậm, in hai màu đỏ và đen nổi bật: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã giành được thắng lợi vĩ đại.

Hiệp định Pa-ri đã được kí chính thức. […]

Trong những ngày tháng Giêng năm bảy mươi ba đó, tất cả các báo chí, các đài phát thanh và vô tuyến truyền hình ở Pa-ri cũng như ở trên thế giới đều liên tiếp đưa tin về Hội nghị Pa-ri và bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Đại lộ Kle-bơ (Kleber) đã trở thành trung tâm thu hút sự chú ý của dư luận toàn thế giới.

Những ngày lịch sử nối tiếp nhau dồn dập.

Ngày 22-1-1973, các chuyên viên của Việt Nam và Hoa Kỳ so lại lần cuối cùng các văn kiện đã thoả thuận xong giữa hai bên.

Ngày 23-1-1973, đúng 12 giờ 30 phút (giờ Pa-ri), Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được kí tắt giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ (Kissinger). Ngày 27-1-1973, đúng 11 giờ (giờ Pa-ri), Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được kí chính thức giữa các Bộ trưởng Ngoại giao của các bên.

Cùng ngày, bốn nghị định thư của Hiệp định cũng đã được kí kết. Như thế là sau 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng, cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đã giành được thắng lợi. Tập văn bản Hiệp định và các nghị định thư bằng hai thứ tiếng Việt và Anh đã được thoả thuận xong. Buổi lễ kí kết đã diễn ra trong khung cảnh trang nghiêm tại phòng họp lớn của Trung tâm Hội nghị quốc tế Kle-bơ. Ở bên ngoài, dọc Đại lộ Kle-bơ, hàng ngàn đại biểu Việt kiều và nhân dân Pháp đã nồng nhiệt vỗ tay, vẫy cờ đỏ sao vàng và cờ xanh đỏ có sao vàng ở giữa, hô khẩu hiệu chào mừng các đại biểu Việt Nam chiến thắng.

Câu 7. Phương án nào nêu đúng căn cứ để xác định đoạn trích trên là văn bản thông tin về một sự kiện lịch sử?

A. Nêu lên các diễn biến quan trọng về việc kí kết Hiệp định Pa-ri

B. Nêu lên các lí do dẫn đến việc kí kết Hiệp định Pa-ri

C. Nêu lên các căn cứ khoa học về việc kí kết Hiệp định Pa-ri

D. Nêu lên tác dụng và ý nghĩa của việc kí kết Hiệp định Pa-ri

Câu 8. So với nhan đề văn bản, thông tin nào sau đây là quan trọng nhất?

A. Hiệp định đã được kí tắt giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ

B. Báo Nhân Dân số ra ngày Chủ nhật 28-1-1973 đã đưa tin này

C. Buổi lễ kí kết đã diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kle-bơ

D. Hiệp định Pa-ri được kí ngày 27-1-1973, chiến tranh đã chấm dứt

Câu 9. Phương án nào sau đây nêu đúng đặc điểm văn bản thông tin thể hiện trong đoạn trích trên?

A. Nhiều trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn

B. Nhiều bằng chứng quan trọng được nêu lên

C. Nhiều lí lẽ được phân tích và làm sáng tỏ

D. Nhiều ý kiến, nhận định đánh giá về sự kiện lịch sử

Câu 10. Liệt kê ba thông tin theo em là quan trọng trong đoạn trích trên.

II. Viết

Chọn một trong hai đề sau để viết thành bài văn ngắn (khoảng 2 trang).

Đề 1. Hình ảnh người mẹ hoặc người bố trong một bài thơ đã đọc khiến em xúc động nhất.

Đề 2. Em có thích đọc truyện cổ tích không? Vì sao? Hãy trình bày ý kiến của mình.

Đáp án Đề thi cuối kì 1 lớp 6 môn Ngữ văn

Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Đáp án D D B C B C A D A

Câu 10:

3 chi tiết quan trọng:

  • Báo Nhân Dân số ra ngày Chủ nhật 28-1-1973 đã in trên trang nhất những dòng chữ to, nét đậm, in hai màu đỏ và đen nổi bật: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã giành được thắng lợi vĩ đại.
  • Ngày 23-1-1973, đúng 12 giờ 30 phút (giờ Pa-ri), Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được kí tắt giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ (Kissinger).
  • Ngày 27-1-1973, đúng 11 giờ (giờ Pa-ri), Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được kí chính thức giữa các Bộ trưởng Ngoại giao của các bên. Cùng ngày, bốn nghị định thư của Hiệp định cũng đã được kí kết.

Đề 6 thi học kì 1 lớp 6 Ngữ Văn

Phần I. (5 điểm)

Cho đoạn văn sau:

“Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Thần hô mưa, gọi gió làm thành dông bão, rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn Tinh…Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước”

(Trích Ngữ văn 6, tập Một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)

Câu 1. Đoạn trích trên được trích từ truyện dân gian nào? Truyện thuộc thể loại gì?

Câu 2. Chỉ ra một cụm động từ có trong câu: “Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước”

Câu 3. Hãy chỉ ra lỗi dùng từ trong câu: “Truyện nhằm tạo ra hiện tượng lũ lụt, nêu cao vai trò và ước mơ chinh phục thiên nhiên của nhân dân ta” và sửa lại cho đúng.

Câu 4. Nguyên nhân của hiện tượng lũ lụt ở đồng bằng Bắc Bộ một phần là bởi con người. Em hãy nêu ít nhất hai việc làm cụ thể để bảo vệ thiên nhiên.

Phần II. (5 điểm)

Mượn lời đồ vật gần gũi với em để kể chuyện tình cảm giữa em và đồ vật đó.

Đáp án đề thi học kì 1 Ngữ văn lớp 6

Phần/ Câu

Nội dung

Điểm

Phần I.

Câu 1

(1 điểm)

– Truyện: Sơn Tinh, Thủy Tinh

– Thể loại: truyện truyền thuyết

0.5 điểm

0.5 điểm

Câu 2

(1 điểm)

– HS chỉ ra đúng một trong các cụm động từ có trong câu: ngập ruộng đồng; ngập nhà cửa; dâng lên lưng đồi,sườn núi; nổi lềnh bềnh trên một biển nước.

1 điểm

Câu 3

(2 điểm)

– Lỗi sai: dùng từ không đúng nghĩa (tạo ra)

– Sửa lại: thay từ “tạo ra” thành “giải thích”

1 điểm

1 điểm

Câu 4

(1 điểm)

HS nêu được những việc làm cụ thể của mình: trồng cây xanh, chăm sóc công trình măng non…

1 điểm

Phần II.

(5 điểm)

5 điểm

4 điểm

3 điểm

2 điểm

1 điểm

0 điểm

1. Một số yêu cầu

a) Về hình thức:

– Kiểu bài kể chuyện tưởng tượng

– Đúng hình thức 1 bài văn, diễn đạt mạch lạc, lưu loát, không sai lỗi chính tả.

– Thể hiện được cảm xúc, suy nghĩ, ấn tượng, sự sáng tạo của cá nhân.

b) Về nội dung: HS có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các nội dung chính sau:

*Mở bài: Giới thiệu về đồ vật gần gũi với em (để đồ vật tự giới thiệu về mình).

*Thân bài:

– Hoàn cảnh xuất hiện của đồ vật trong gia đình em.

– Tình cảm của em đối với đồ vật (Kể lại một vài hành động và việc làm

cụ thể bộc lộ tình cảm của mình).

– Tình cảm của đồ vật trong những ngày đầu đối với em (Nêu ra những biểu hiện cụ thể).

– Tình cảm của em đối với đồ vật ngày càng sâu sắc (Đưa ra một vài việc cụ thể để minh họa).

*Kết bài: Nêu tình cảm của mình đối với đồ vật đó.

2. Biểu điểm:

Bài viết đúng thể loại, bố cục rõ ràng, nội dung sâu sắc, tưởng tượng sáng tạo. Diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả hay diễn đạt.

Đáp ứng tương đối đầy đủ các yêu cầu trên, tưởng tượng hợp lý. Còn mắc một vài lỗi chính tả, diễn đạt.

– Nội dung tương đối đầy đủ, yếu tố tưởng tượng hạn chế. Còn mắc một vài lỗi chính tả, diễn đạt.

Nội dung sơ sài, còn mắc lỗi chính tả và diễn đạt.

Bố cục chưa hoàn chỉnh, diễn đạt yếu, mắc nhiều lỗi.

Bỏ giấy trắng hoặc lạc đề.

Tùy vào bài viết cụ thể, giáo viên cho các thang điểm còn lại.

1.5 điểm

3.5 điểm

Đề 7 thi học kì 1 lớp 6 Ngữ Văn

Phần I. (5 điểm)

Cho đoạn văn sau:

“Vua sai bắt giam hai mẹ con Lý Thông, giao lại cho Thạch Sanh xét xử. Chàng không giết mà cho chúng về quê làm ăn. Nhưng về đến nửa đường thì chúng bị sét đánh chết, rồi bị hóa kiếp thành bọ hung.”

(Trích Ngữ văn 6, tập Một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)

Câu 1. Đoạn trích trên được trích từ truyện dân gian nào? Truyện thuộc thể loại gì?

Câu 2. Chỉ ra một cụm danh từ có trong câu: “Vua sai bắt giam hai mẹ con Lý Thông, giao lại cho Thạch Sanh xét xử”.

Câu 3. Hãy chỉ ra lỗi dùng từ trong câu: “Truyện đã phơi bày ước mơ, niềm tin về đạo đức, công lí xã hội và lí tưởng nhân đạo, yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta” và sửa lại cho đúng.

Câu 4. Mục đích kết bạn của Lí Thông với Thạch Sanh ngay từ đầu đã thể hiện ý đồ xấu.Vậy, em cần làm gì để xây dựng tình bạn đẹp với các bạn trong lớp? (Nêu ít nhất hai việc cần làm).

Phần II. (5 điểm)

Em hãy đóng vai một nhân vật trong truyện dân gian đã học để kể lại câu chuyện đó.

Đáp án đề thi học kì 1 lớp 6 môn Ngữ Văn – Đề 2

Phần/ Câu

Nội dung

Điểm

Phần I.

Câu 1

(1 điểm)

– Truyện: Thạch Sanh

– Thể loại: Truyện cổ tích

0.5 điểm

0.5 điểm

Câu 2

(1 điểm)

– HS chỉ ra đúng cụm danh từ có trong câu: hai mẹ con Lý Thông

1 điểm

Câu 3

(2 điểm)

– Lỗi sai: dùng từ không đúng nghĩa (phơi bày)

– Sửa lại: thay từ “phơi bày” thành “thể hiện”

1 điểm

1 điểm

Câu 4

(1 điểm)

HS rút ra những hành động: đoàn kết, yêu thương, chia sẻ, đùm bọc, động viên, sống chân thành…với các bạn trong lớp (đặc biệt là những bạn có hoàn cảnh khó khăn)

1 điểm

Phần II.

(5 điểm)

5 điểm

4 điểm

3 điểm

2 điểm

1 điểm

0 điểm

1. Một số yêu cầu.

a. Về hình thức:

– Kiểu bài kể chuyện tưởng tượng

– Đúng hình thức 1 bài văn, diễn đạt mạch lạc, lưu loát, không sai lỗi chính tả.

– Thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, ấn tượng, sự sáng tạo của cá nhân.

b. Về nội dung:

*Mở bài: Giới thiệu truyện đã học trong SGK, kể theo ngôi thứ nhất.

*Thân bài:

– HS cần dựa vào truyện đã học trong SGK để kể, kể theo ngôi thứ nhất.

– HS có thể lần lượt kể lần lượt theo trình tự có sẵn trong SGK hoặc kể theo trình tự mà mình lựa chọn sao cho hợp lí, phù hợp với diễn biến của truyện

– Khi kể cần đảm bảo những sự việc chính, có thể thêm bớt các chi tiết phụ, tránh sao chép máy móc SGK.

– Để câu chuyện thêm sinh động, hấp dẫn, HS có thể xen thêm những yếu tố miêu tả.

*Kết bài: Nêu cảm nghĩ của nhân vật kể chuyện.

*Lưu ý: HS phát huy trí tưởng tượng song các chi tiết tự sự phải hợp lý, không làm sai lệch nội dung tác phẩm…

2. Biểu điểm:

Bài viết đúng thể loại, bố cục rõ ràng, nội dung sâu sắc, tưởng tượng sáng tạo. Diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả hay diễn đạt.

– Đáp ứng tương đối đầy đủ các yêu cầu trên, tưởng tượng hợp lý. Còn mắc một vài lỗi chính tả, diễn đạt.

– Nội dung tương đối đầy đủ, yếu tố tưởng tượng hạn chế. Còn mắc một vài lỗi chính tả, diễn đạt.

– Nội dung sơ sài, còn mắc lỗi chính tả và diễn đạt.

– Bố cục chưa hoàn chỉnh, diễn đạt yếu, mắc nhiều lỗi.

– Bỏ giấy trắng hoặc lạc đề.

Tùy vào bài viết cụ thể, giáo viên cho các thang điểm còn lại.

1.5 điểm

3.5 điểm

Đề 8 thi học kì 1 môn Ngữ văn 6

Trường THCS…………..

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I NGỮ VĂN 6
Năm học …

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

BUỔI ĐẦU TIÊN HỌC TRƯỜNG YÊN PHỤ

Tôi chỉ có tội ham chơi chứ học không đến nỗi dốt lắm, vì cha tôi dạy tôi chữ Nho rồi chữ Quốc ngữ chung với vài đứa em họ tôi và con một người bạn của mẹ tôi. Chúng đều hơn tôi hai, ba tuổi mà học kém tôi.

Học như vậy được khoảng hai năm, rồi cha tôi nhờ một thầy kí có bằng Tiểu học Pháp Việt dạy vần Tây cho tôi. Đầu năm Canh Thân (1920), cha tôi xin cho tôi được vào học lớp dự bị Trường Yên Phụ. Lúc đó, vào giữa năm học, chắc tôi không được chính thức ghi tên vô sổ.

Buổi học đầu tiên của tôi nhằm ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch. Cha tôi dậy sớm, sắp xếp bút mực, thước kẻ, sách vở vào cái cặp da nhỏ (một xa xỉ phẩm thời đó) rồi khăn áo chỉnh tề, thuê một chiếc xe kéo bánh sắt (chưa có bánh cao su) để đưa tôi tới trường ở dưới chân đê Yên Phụ, cách nhà tôi hai cây số, dắt tôi lại chào thầy Hà Ngọc Chử, gởi gắm tôi với thầy. Ngày nay, đọc lại hai trang đầu bài Tựa cuốn Thế hệ ngày mai, trong đó, tôi chép lại một buổi học đầu tiên của tôi và buổi học đầu tiên của con tôi ngoài hai chục năm sau vẫn còn bùi ngùi: tình cha tôi đối với tôi, và tình vợ chồng tôi đối với con tôi, sự săn sóc của chúng tôi đối với con y như nhau, hai thế hệ một tấm lòng, một tinh thần.

Tôi còn thấy rõ nét mặt của cha tôi, của thầy Chử, cảnh sân trường, cảnh lớp học, tưởng đâu như việc mới xảy ra tháng trước, thế mà đã sáu chục năm qua rồi. Bài Tựa đó đã làm cảm động nhiều độc giả, có người định lựa cho vào một tập Văn tuyển.

Hôm đó, cả sáng lẫn chiều, cha tôi đưa tôi tới trường, rồi đợi tan học lại đưa tôi về. Nhưng chỉ ngày hôm sau, cha tôi kiếm được một bạn học cùng lớp với tôi, lớn hơn tôi một, hai tuổi, nhà ở Hàng Mắm gần nhà tôi, và nhờ em đó hễ đi học thì rẽ vào nhà tôi, đón tôi cùng đi. Từ đó, người khỏi phải đưa tôi nữa, và mỗi ngày tôi với bạn đi đi về về bốn lượt, từ nhà tôi tới trường, từ trường về nhà. Mùa hè để tránh nắng, chúng tôi theo bờ đê Nhị Hà, qua phố Hàng Nâu, Ô Quan Chưởng gần cầu Đu-me (Doumer) (cầu Long Biên), bến Nứa để hưởng hương thơm ngào ngạt của vài cây đuôi chồn (loại lilas) ở khỏi dốc Hàng Than, lá mùa xuân xanh như ngọc thạch, mùa đông đỏ như lá bàng. Mùa đông để tránh gió bấc từ sông thổi vào, chúng tôi theo con đường ở phía trong, xa hơn, qua phố Hàng Đường, Hàng Than, sau nhà máy nước, nhà máy thuốc lá. Có lẽ, nhờ đi bộ như vậy, mỗi ngày tám cây số, luôn năm, sáu năm trời nên thân thể cứng cáp, mặc dầu thiếu ăn thiếu mặc.

(Theo Nguyễn Hiến Lê)

1. Trắc nghiệm (3 điểm)

Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời em cho là đúng, mỗi đáp án đúng được 0,5 điểm.

Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại gì?

A. Hồi kí
B. Du kí
C. Truyện ngắn
D. Tiểu thuyết

Câu 2: Nội dung chính của văn bản trên được thể hiện rõ ở phần nào?

A. Câu mở đầu văn bản
B. Câu cuối văn bản
C. Tiêu đề (nhan đề) của văn bản
D. Câu mở đầu các đoạn văn

Câu 3: Dòng nào dưới đây ghi đúng tính chất thể loại của văn bản này?

A. Ghi lại những sự việc có thực mà tác giả đã trải qua
B. Ghi lại những sự việc trọng đại đã xảy ra trong quá khứ
C. Ghi lại những câu chuyện của các danh nhân nổi tiếng
D. Ghi lại những lời giáo huấn, răn đe

Câu 4: Tính chất xác thực của văn bản trên thể hiện ở chi tiết nào sau đây?

A. Bài Tựa đó đã làm cảm động nhiều độc giả
B. Hôm đó, cả sáng lẫn chiều, cha tôi đưa tôi tới trường, rồi đợi tan học lại đưa tôi về.
C. Chúng tôi theo bờ đê Nhị Hà, qua phố Hàng Nâu, Ô Quan Chưởng…
D. Cha tôi dậy sớm, sắp xếp bút mực, thước kẻ, sách vở vào cái cặp da nhỏ.

Câu 5: Dòng nào chứa cảm xúc của người viết:

A. Buổi học đầu tiên của chúng tôi nhằm ngày 7 tháng Giêng Âm lịch
B. Lúc đó vào giữa năm học, chắc tôi không được ghi tên chính thức vào sổ
C…. thế mà đã sáu chục năm qua rồi!
D. … cha tôi tới đón tôi ở trường, rồi đợi tan học lại đưa tôi về.

Câu 6: Câu nào sau đây khái quát đúng ý nghĩa của văn bản trên?

A. Sự quan tâm của người cha tới việc học hành của con cái là hết sức quan trọng, đặc biệt là buổi học đầu tiên
B. Sự quan tâm của bạn bè cùng thế hệ là hết sức quan trọng, đặc biệt là buổi học đầu tiên
C. Sự quan tâm của thầy cô giáo với học trò là hết sức quan trọng, đặc biệt là buổi học đầu tiên
D. Sự quan tâm của nhà trường đối với học trò là hết sức quan trọng, đặc biệt là buổi học đầu tiên.

2. Tự luận (3 điểm)

Câu 7 (1,5 điểm): Trong câu: “Cha tôi dậy sớm… để đưa tôi tới trường ở dưới chân đê Yên Phụ”, từ “chân” được hiểu theo nghĩa nào? Từ “chân” là một từ đa nghĩa, em hãy đặt câu với từ “chân” có nghĩa khác với nghĩa trên và giải thích rõ nghĩa.

Câu 8 (1,5 điểm): Văn bản được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể đó?

PHẦN II. VIẾT (4 ĐIỂM)

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

(Ca dao)

Viết đoạn văn khoảng 10 câu phát biểu cảm nghĩ của em về bài ca dao trên. Trong đoạn văn sử dụng câu có vị ngữ là cụm từ. Gạch chân và xác định phần trung tâm và thành tố phụ của cụm từ đó.

Đáp án đề thi học kì 1 môn Ngữ văn 6

Phần I. Đọc hiểu (6,0 điểm)

Phần trắc nghiệm: 3,0 điểm. Mỗi câu trả lời đúng được 0,5 điểm

Câu 1 Câu 2 Câu 3 Câu 4 Câu 5 Câu 6
A C A C C A

Phần tự luận: 3,0 điểm

Câu Nội dung Điểm

Câu 7

– Nghĩa của “chân” trong từ “chân đê”: phần dưới cùng của một số vật, tiếp giáp và bám chặt vào mặt nền.

– HS đặt câu đúng ngữ pháp, nội dung hợp lí.

– Giải nghĩa từ “chân” chính xác. Ví dụ:

+ bộ phận dưới cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi, đứng, chạy, nhảy, …

+ bộ phận dưới cùng của một số đồ dùng, có tác dụng đỡ cho các bộ phận khác

0,5

0,5

0,5

Câu 8

– Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất.

– Tác dụng của ngôi kể thứ nhất:

+ Giúp tác giả dễ dàng ghi lại những cảm xúc, tâm trạng, quan sát, … mà chính tác giả đã trải qua trong buổi học đầu tiên…

+ Câu chuyện được kể giản dị, chân thực – gây xúc động cho người đọc.

0,5

1,0

Phần II. Viết (4,0 điểm)

Yêu cầu Điểm

Về hình thức:

– Đúng hình thức đoạn văn: Viết hoa, lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu kết thúc câu, xuống dòng (không xuống dòng, tách đoạn)

– Dung lượng: khoảng 10 câu (+ – 2 câu).

– Bố cục đủ 3 phần: MĐ – TĐ – KĐ.

– Không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt, liên kết câu.

0,25

0,25

0,25

0,25

Về nội dung:

* Mở đoạn:

– Giới thiệu bài ca dao.

– Cảm nghĩ, ấn tượng chung về bài ca dao.

* Thân đoạn:

HS có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, đảm bảo yêu cầu:

– Bày tỏ cảm xúc với nghệ thuật độc đáo của bài ca dao:

Biện pháp tu từ so sánh: Công cha – núi Thái Sơn; Nghĩa mẹ – nước trong nguồn. Phân tích được giá trị…

– Bày tỏ cảm xúc với nội dung của bài ca dao:

+ công ơn mẹ cha lớn lao, không bao giờ vơi cạn, …

+ lời nhắn nhủ về đạo hiếu làm con giản dị mà sâu sắc

* Kết đoạn: Khái quát cảm nghĩ của bản thân về ý nghĩa của bài ca dao. Liên hệ bản thân.

Đề 9 thi học kì 1 môn Ngữ văn 6

TRƯỜNG THCS ……..

ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I NĂM …

Câu 1 (0,5 điểm). Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2 (0,5 điểm). Bài ca dao trên thể hiện tình cảm gì?

Câu 3 (1.0 điểm). Câu thơ “Công cha như núi Thái Sơn” sử dụng phép tu từ nào? Tác dụng của phép tu từ đó?

Câu 4 (1.0 điểm). Em hiểu câu thơ “Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” như thế nào?

II. LÀM VĂN: (7 ĐIỂM)

Câu 1 (2.0 điểm). Hãy viết một đoạn văn ngắn (5-7 câu) nêu cảm nhận của em về vai trò của gia đình đối với mỗi người.

Câu 2: (5 điểm) Kể lại một trải nghiệm của em với người thân trong gia đình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị …)

Đáp án đề thi học kì 1 môn Ngữ văn 6

I. Đọc hiểu

Câu 1

Câu 2.

-Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ lục bát

-Bài ca dao trên thể hiện tình cảm của cha mẹ với con cái.

0,5đ

0,5đ

Câu 3

(1.0 điểm).

-Câu “Công cha như núi Thái Sơn ” sử dụng phép so sánh

-Tác dụng: ca ngợi công lao vô cùng to lớn của người cha…

0,5đ

0,5đ

Câu 4

(1.0 điểm).

Câu thơ “ Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”là lời nhắn nhủ về bổn phận làm con. Công lao cha mẹ như biển trời, vì vậy chúng ta phải tạc dạ ghi lòng, biết sống hiếu thảo với cha mẹ. Luôn thể hiện lòng hiếu thảo bằng việc làm cụ thể như vâng lời, chăm ngoan, học giỏi, giúp đỡ cha mẹ…

1.0

Làm văn

7 điểm

 

câu 1

(2đ)

HS có thể trình bày một số ý cơ bản như:

-Gia đình là nơi các thành viên có quan hệ tình cảm ruột thịt sống chung và gắn bó với nhau. Nơi ta được nuôi dưỡng và giáo dục để trưởng thành.

-Là điểm tựa tinh thần vững chắc cho mỗi cá nhân
-Là gốc rễ hình thành nên tính cách con người

– Trách nhiệm của mỗi cá nhân trong gia đình:xây dựng giữ gìn gia đình hạnh phúc đầm ấm…

HS kiến giải hợp lý theo cách nhìn nhận cá nhân vẫn đạt điểm theo mức độ thuyết phục…

Câu 2 ()

Mở bài

Giới thiệu sơ lược về trải nghiệm

Dẫn dắt chuyển ý, gợi sự tò mò, hấp dẫn với người đọc.

Thân bài

– Trình bày chi tiết về thời gian, không gian, hoàn cảnh xảy ra câu chuyện.

– Trình bày chi tiết những nhân vật liên quan.

– Trình bày các sự việc theo trình tự rõ ràng, hợp lí.

(Kết hợp kể và tả. Sự việc này nối tiếp sự việc kia một cách hợp lí).

2,5đ

Kết bài

Nêu ý nghĩa của trải nghiệm đối với bản thân.

0,5

Trình bày sạch, bố cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát, ít mắc các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt.

Sử dụng ngôn ngữ kể chuyện chọn lọc, có sử dụng kết hợp biện pháp tu từ đã học để miêu tả. Ngôn ngữ giàu sức biểu cảm, bài viết lôi cuốn, hấp dẫn, cảm xúc

Bài làm cần tập trung làm nổi bật hoạt động trải nghiệm của bản thân. Kể chuyện theo một trình tự hợp lý, logic giữa các phần, có sự liên kết.


Môn: Ngữ Văn lớp 6
Thời gian: 90p (không kể thời gian giao đề)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

(Ca dao)

Đề 10 thi học kì 1 môn Ngữ văn 6

PHÒNG GD&ĐT…….
TRƯỜNG TH&THCS …………

ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I NĂM HỌC…
MÔN: Ngữ văn 6
(thời gian: 90p – không kể thời gian giao đề)

I. Trắc nghiệm (3 điểm)

Đọc kĩ các câu sau rồi chọn câu trả lời đúng nhất ghi vào giấy kiểm tra

Câu 1. Trong các truyện sau truyện nào là truyện cổ tích?

A. Em bé thông min
B. Bánh chưng, bánh giầy
C. Sự tích Hồ Gươm
D. Con Giồng cháu tiên

Câu 2. Các từ láy nào thường được dùng để tả tiếng cười?

A. Hả hê
B. Héo mòn
C. Khanh khách
D. Vui cười

Câu 3. Câu nào sau đây có trạng ngữ chỉ nơi chốn?

A. Lập tức, vua cho gọi cả hai cha con vào ban thưởng rất hậu.
B. Thu về, khi lá bàng vẫn còn xanh, gốc bàng là nơi tụ họp của chúng.
C. Giữa sân trường, chúng em chơi nô đùa.
D. Những cô bé ngày nào nay đã trưởng thành.

Câu 4. Truyền truyền thuyết là?

A. Là thể loại truyện dân gian, thường kể về sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc liên quan đến lịch sử.
B. Là truyện có nhân vật thường là loài vật hoặc đồ vật được nhân cách hóa. Các nhân vật này mang đặc điểm vốn có của loài vật hoặc đồ vật.
C. Là truyện dân gian kể về sự tích các loài vật, đồ vật..
D. Vì nó kể lại một câu chuyện với những tình tiết li kì hấp dẫn.

Câu 5. Ý nào dưới đây không thể hiện đặc điểm của nhân vật truyền thuyết?

A. Nhân vật là những người bình thường, nghèo khổ.
B. Thường gắn với sự kiện lịch sử và có công lớn đối với cộng đồng.
C. Là nhân vật bất hạnh.
D. Là những người thông minh.

Câu 6. Ý nào sau đây không nói về định hướng khi viết bài văn kể lại một truyện truyền thuyết hoặc cổ tích?

A. Viết y nguyên câu chữ trong truyện.
B. Thay đổi từ ngữ, cách đặt câu.
C. Thêm các yếu tố miên tả.
D. Thêm một vài chi tiết.

II. Tự luận (7 điểm)

Câu 1: (1 điểm): Đặt một câu miêu tả khí thế chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn có dùng thành ngữ “chết như rạ”.

Câu 2: ( 6 điểm) Kể lại một truyện truyền thuyết hoặc cổ tích bằng lời văn của em.

Đáp án đề 10 thi học kì 1 môn Ngữ văn 6

I. Trắc nghiệm: 3 điểm (Mỗi câu đúng 0,5 điểm)

Câu 1 2 3 4 5 6
Đáp án A C C A B A

II. Phần tự luận: (7 điểm)

Câu

Đáp án

Điểm

Câu 1

– Đặt được câu hoàn chỉnh có thành ngữ

“chết như rạ”.

– Câu văn miêu tả đúng nội dung.

0,5

0,5

Câu 2

a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn tự sự: có đầy đủ Mở bài, Thân bài, Kết bài.

0,5

b. Xác định đúng vấn đề

0,5

c. Triển khai vấn đề:

a. Mở bài

Giới thiệu hoặc nêu lí do kể lại truyện truyền thuyết hoặc cổ tích đó.

b. Thân bài

Kể diễn biến câu chuyện truyền thuyết hoặc cổ tích theo một trình tự của chuỗi sự việc:

– Sự việc khởi đầu- Sự việc phát triển- Sự việc cao trào – Sự việc kết thúc

c. Kết bàiSuy nghĩ về câu chuyện đã kể

0,5

0,5

1,0

1,0

0,5

0,5

d. Sáng tạo: HS có cách kể chuyện độc đáo, linh hoạt.

0,5

e. Chính tả: dùng từ, đặt câu, đảm bảo chuẩn ngữ pháp, ngữ nghĩa TV.

0,5

Giải chi tiết đề 11 thi kì 1 môn văn lớp 6 Phòng GD & ĐT Đống Đa

Đề bài

PHẢN I: (5,0 điểm)

        Là viên ngọc sáng trong kho tàng văn hóa dân tộc, văn học dân gian chứa đựng những bài học nhân sinh sâu sắc của người dân xưa. Một trong những bài học đó được gửi gắm qua truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem lại”, trong đó có đoạn:

        “…Nhân buổi ế hàng năm ông thầy bói ngồi chuyện gẫu với nhau. Thầy nào cũng phàn nàn không biết hình thù con voi nó thế nào. Chợt nghe người ta nói có voi đi qua, năm thấy chung nhau tiền biếu người quân voi, xin cho voi đứng lại để cùng xem. Thầy thì sở vòi, thấy thì sở ngà, thầy thì sở tại, thấy thì sở chân, thấy thì sờ đuôi.”

(Trích Ngữ văn 6, tập một, NXB Giáo dục, 2018)

Câu 1. Nêu định nghĩa thể loại truyện ngụ ngôn.

Câu 2. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản chứa đoạn trích trên. Việc sử dụng ngôi kể đó có tác dụng gì?

Câu 3. Viết một đoạn văn khoảng 5 câu nêu bài học rút ra từ câu chuyện. Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất một cụm động từ (gạch chân và chủ thích rõ).

Câu 4. Trong học tập và ứng xử với bạn bè, em đã làm gì để tránh mắc phải những sai lầm như năm ông thầy bói trong câu chuyện trên?

Phần II: (5,0 điểm)

Chọn một trong hai đề sau:

Đề 1. Tưởng tượng mình là một cây xanh trên sân trường nơi em đang học, kể lại niềm vui khi được chứng kiến những hoạt động của các bạn học sinh.

Đề 2. Hạnh phúc biết bao khi chúng ta có những người bạn luôn đồng hành và sẻ chia những nỗi niềm thầm kín. Hãy viết một bài văn kể về một người bạn thân mà em yêu quí nhất.

Lời giải chi tiết

PHẦN I

Câu 1.

*Phương pháp: Nhớ lại định nghĩa truyện ngụ ngôn.

*Cách giải:

– Truyện ngụ ngôn là truyện kể dân gian bằng văn xuôi hay bằng thơ, mượn chuyện về loài vật, đồ vật, cây cỏ… làm ẩn dụ, hoặc chính chuyện con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện đời, chuyện người, nhằm nêu lên bài học luân lí.

– Văn bản cùng loại: Đeo nhạc cho mèo.

Câu 2.

*Phương pháp: Nhớ lại các ngôi kể đã học.

*Cách giải:

– Văn bản trên sử dụng ngôi kể thứ ba (người kể tự giấu mình).

– Tác dụng: Cách kể này giúp người kể có thể kể chuyện một cách linh hoạt, tư do những gì diễn ra với nhân vật.

Câu 3.

*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.

*Cách giải:

Học sinh nắm chắc kiến thức viết đoạn văn và viết theo yêu cầu đề bài. Gợi ý:

– Yêu cầu hình thức:

+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm đoạn văn.

+ Đoạn văn đầy đủ các phần mở, thân, kết đoạn.

– Yêu cầu nội dung:

+ Đoạn văn xoay quanh nội dung: bài học rút ra từ truyện “Thầy bói xem voi”.

+ Đoạn văn có sử dụng cụm động từ.

– Hướng dẫn cụ thể:

Mở đoạn: giới thiệu chung về Thầy bói xem voi.

Thân đoạn:

– Bài học:

+ Luôn nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo.

+ Xem xét cặn kẽ, toàn diện vấn đề rồi mới kết luận.

+ Biết lắng nghe ý kiến của mọi người có chọn lọc.

+ Không phán đoán những thứ mà mình không chắc chắn.

Kết đoạn: Khẳng định lại giá trị văn bản.

Câu 4.

*Phương pháp: Đọc hiểu.

*Cách giải:

– Bài học: trong học tập, em luôn tìm tòi, khám phá để học hỏi những điều hay nhất. Trong ứng xử với bạn bè, em luôn nhã nhặn, lịch sự và lắng nghe ý kiến của mọi người.

PHẦN II

Đề 1.

*Phương pháp: Kể chuyện tưởng tượng.

*Cách giải:

Học sinh nắm chắc kiến thức viết bài văn và viết theo yêu cầu đề bài. Gợi ý:

– Yêu cầu hình thức:

+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm văn bản kể chuyện tưởng tượng.

+ Bài văn đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.

– Yêu cầu nội dung:

+ Bài văn xoay quanh nội dung: Tưởng tượng mình là một cây xanh trên sân trường nơi em đang học, kể lại niềm vui khi được chứng kiến những hoạt động của các bạn học sinh.

– Hướng dẫn cụ thể:

1. Mở bài: Giới thiệu về mình và những niềm vui xung quanh. (cây phượng, cây bàng, cây bằng lăng…)

2. Thân bài:

– Sơ lược về bản thân:

+ Dáng vóc: là cây phượng cao lớn khoảng 5 m, đã gắn bó với ngôi trường 5 năm.

+ Hàng ngày được các bạn học sinh chăm sóc, tưới tắm.

+ Chứng kiến rất nhiều kỉ niệm tuổi học trò.

– Những kỉ niệm với các bạn học sinh:

+ Kỉ niệm vui: những giờ ra chơi đầy tiếng cười của các bạn, những buổi chào cờ trang nghiêm, những niềm hạnh phúc khi các bạn được khen thưởng.

+ Kỉ niệm buồn: khi các bạn bẻ cành, bẻ lá; khi các bạn chia tay bạn bè, thầy cô để lên trường học mới; khi các bạn cư xử với nhau chưa tốt…

– Cảm xúc về những kỉ niệm đó.

3. Kết bài: Bày tỏ tình cảm, sự yêu mến đối với mái trường, thầy cô và các bạn học sinh.

Đề 2.

*Phương pháp: Kể chuyện kết hợp miêu tả, biểu cảm.

*Cách giải:

Học sinh nắm chắc kiến thức viết bài văn và viết theo yêu cầu đề bài. Gợi ý:

– Yêu cầu hình thức:

+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm văn bản tự sự.

+ Bài văn đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.

– Yêu cầu nội dung:

+ Bài văn xoay quanh nội dung: kể về một người bạn thân mà em yêu quý.

– Hướng dẫn cụ thể:

1, Mở bài

   – Giới thiệu sơ lược về một người bạn thân thiết: trực tiếp giới thiệu về bạn hoặc gián tiếp giới thiệu thông qua một câu thành ngữ, tục ngữ về tình bạn.

2, Thân bài

a) Hoàn cảnh, lí do trở thành bạn thân

   – Giới thiệu về giới tính, ngoại hình, tuổi: bạn gái hàng xóm, từ nhỏ lớn lên cùng nhau, bạn nhỏ bé, có má lúm đồng tiền cười rất xinh.

⇒ Kết hợp phương pháp miêu tả và biểu cảm.

   – Lí do quen biết? Nhờ đâu mà hai người trở nên thân thiết?: cùng sinh ra trong một tháng, từ nhỏ đã chơi thân, cùng đi học chung từ mẫu giáo.

b) Tình bạn giữa hai người

   – Tính cách của bạn, điểm tốt – điểm chưa tốt ở bạn: bạn vui tính, nhí nhảnh, hay cười hay nói nhưng đôi khi quá ồn ào, quá tích cực. Bạn hay có những tưởng tượng khác lạ về việc học tập và cuộc sống. Bạn ước mơ trở thành nhà thiết kế game.

   – Kể về một vài kỉ niệm hai người có với nhau: cùng nhau tham gia thi chạy tiếp sức. Bạn bị tai nạn, phải nằm một chỗ buồn, mình đến chơi và làm nhiều trò hài hước để bạn vui…

   – Hai người đi đâu cũng có nhau, như hai chị em ruột.

⇒ Kết hợp phương pháp tự sự và biểu cảm.

3, Kết bài

Nói về mối quan hệ hiện tại của hai người và những hi vọng ở tương lai: vẫn tiếp tục thân thiết, mong hai người đều học tập tốt, thực hiện được những ước mơ của bản thân.

Giải chi tiết đề 12 thi kì 1 môn văn lớp 6 Phòng GD & ĐT Quận 10

Đề bài

Câu 1: (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

       Năm 1948, trường Đại học Oxford tổ chức một buổi diễn thuyết có chủ để “Bí quyết thành công, người được mời nói chuyện là thủ tướng Churchul danh tiếng của nước Anh.

        Hôm đó, trong hội trưởng đông nghịt người, phóng viên các tòa bảo lớn, trên khắp thế giới đều có mặt. Rất lâu sau, ngài Church mới giơ tay ra hiệu mọi người im lặng. Ông nói:

– Bí quyết thành công của tôi có ba điều: “Thứ nhất, không bỏ cuộc; thứ hai, quyết không bỏ cuộc; thứ ba, không bao giờ bỏ cuộc! Bài diễn thuyết đến đây xin kết thúc. “

       Nói xong, ông rời khỏi bục. Cả hội trong im lặng hồi lâu, rồi một tràng pháo tay vang lên, vang mãi không dứt.

(Trich Quyết không bỏ cuộc – Hạt giống tâm hồn 13)

a. Xác định phương thức biểu đạt và nội dung chính của đoạn trích trên.

b. Chỉ ra một danh từ riêng và một chỉ từ có trong đoạn trích. Đặt một câu với chỉ từ vừa tìm được.

c. Hãy nêu lên suy nghĩ của em về bài học được rút ra từ đoạn trích trên.

Câu 2: (3 điểm)

       Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu suy nghĩ của em về ý thức giữ gìn vệ sinh trường lớp của học sinh hiện nay. Trong đó có sử dụng một chỉ tử và một từ mượn (gạch dưới và chú thích).

Câu 3: (4,0 điểm)

Trong cuộc sống có rất nhiều kỷ niệm buồn, vui. Em hãy viết bài văn kể lại một kỷ niệm khiến em nhớ mãi.

Lời giải chi tiết

Câu 1

a.

*Phương pháp: Nhớ lại các phương thức biểu đạt đã học (tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính – công vụ).

*Cách giải:

– Phương thức biểu đạt chính: tự sự.

– Nội dung chính: Kể lại buổi diễn thuyết của thủ tướng nước Anh.

b.

*Phương pháp: Nhớ lại bài Danh từ và Chỉ từ.

*Cách giải:

– Danh tử riêng: Đại học Oxford

– Chỉ từ: “đó”

– Đặt câu với chỉ từ: Cô bạn đó là cô bạn thân nhất của tôi.

c.

*Phương pháp: Đọc hiểu

*Cách giải:

– Bài học: Kiên trì để đạt được mục tiêu và không bao giờ bỏ cuộc.

Câu 2.

*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.

*Cách giải:

Học sinh nắm chắc kiến thức viết đoạn văn và viết theo yêu cầu đề bài. Gợi ý:

– Yêu cầu hình thức:

+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm đoạn văn.

+ Đoạn văn đầy đủ các phần mở, thân, kết đoạn.

– Yêu cầu nội dung:

+ Đoạn văn xoay quanh nội dung: ý thức giữ gìn vệ sinh trường lớp của học sinh hiện nay.

+ Đoạn văn có sử dụng từ mượn và chỉ từ.

– Hướng dẫn cụ thể:

Mở đoạn: giới thiệu chung về vấn đề vệ sinh trường lớp.

Thân đoạn:

– Giải thích: Giữ gìn vệ sinh trường lớp là hành động giữ gìn và bảo vệ không gian trường học, lớp học, không để bị nhiễm bẩn, mất vệ sinh hay ô nhiễm bởi rác thải, chất thải, vi khuẩn độc hại,…

– Biểu hiện:

+ Không bôi bẩn, làm bẩn hay tô vẽ lên vách tường, bàn ghế và các vật dụng khác ở trường học

+ Không vứt rác, xả rác bừa bãi.

+ Dọn vệ sinh trường học, lớp học sạch sẽ vào đầu giờ và cuối giờ học.

+ Tổ chức làm vệ sinh tập thể để cùng nhau bảo vệ khuôn viên trường học, lớp học không rác bẩn

– Phê phán: Thật đáng buồn khi còn có nhiều học sinh không có ý thức giữ gìn vệ sinh trường học, lớp học. Không những họ lười biếng trong công việc trực nhật làm vệ sinh mà còn vô ý thức vứt rác bừa bãi khắp trường học, lớp học. Những người như thế thật đáng chê trách.

– Bài học: Mỗi học sinh phải có ý thức giữ gìn vệ sinh trường học, lớp học. Môi trường trường học, lớp học sạch sẽ, không rác bẩn là góp phần bảo vệ môi trường sống của chúng ta.

 Kết đoạn: Khẳng định lại vai trò của việc giữ vệ sinh chung.

Câu 3

*Phương pháp: Kể chuyện kết hợp miêu tả, biểu cảm.

*Cách giải:

Học sinh nắm chắc kiến thức viết bài văn và viết theo yêu cầu đề bài. Gợi ý:

– Yêu cầu hình thức:

+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm văn bản tự sự.

+ Bài văn đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.

– Yêu cầu nội dung:

+ Bài văn xoay quanh nội dung: kể lại một kỷ niệm khiến em nhớ mãi.

– Hướng dẫn cụ thể:

1. Mở bài

– Tuổi thơ của mỗi người có bao kỉ niệm buồn vui.

– Với em cũng vậy, em có rất nhiều kĩ niệm vui, buồn.

– Trong những kĩ niệm đó, em nhớ nhất một kĩ niệm buồn xảy ra năm em chuẩn bị vào lớp Một.

2. Thân hài

a. Giới thiệu sự việc

– Vào những ngày hè, quê hương em rất vui và náo nhiệt.

– Tuổi thơ chúng em vui chơi thỏa thích trong những chiều hè. Các anh lớn tuổi tập trung chơi bóng đá trên bãi cỏ. Một số anh chị lại chơi thả diều. Các chị chơi đá cầu hoặc kéo co. Tiếng cười đùa vang lên thật vui.

– Em theo các anh chị đi bắt chuồn chuồn, châu chấu về cho mấy con ngan, con vịt ăn. Rồi một sự việc bất ngờ đã xảy ra.

b. Diễn biến sự việc

– Em đang cố với tay bắt một con chuồn chuồn đậu trên cành cây bên cạnh bờ ao thì dưới chân em, đất bờ ao bỗng nhiên bị sụt lở. Em không kịp lùi lại nên rơi tùm xuống nước.

– Em không biết bơi. Hai tay em chới với. Một chút thôi mà em uống tới mấy ngụm nước.

– Em loáng thoáng nghe tiếng ai đó trên bờ kêu cứu.

– Khi em vùng vẫy sắp chìm xuống thì có ai đó nắm tóc em kéo lên.

– Thế rồi em chẳng còn hay biết gì nữa.

– Khi tỉnh dậy, em thấy mình đang nằm trong căn phòng với bốn bức tường sơn màu trắng. Xung quanh em là bác sĩ và cô y tá. Mẹ em đứng xa hơn một chút và nước mắt ngắn dài. Ba em đang đứng cạnh mẹ em.

– Suốt ngày hôm đó, mẹ luôn ở bên em. Lúc này, em mới cảm nhận được tình yêu thương vô bờ bến của mẹ dành cho em.

3. Kết bài

Sau khi về nhà, mẹ dặn em không nên chơi gần bờ sông, bờ ao vì chơi ở những nơi đó sẽ rất nguy hiểm.

– Em sẽ nghe lời dạy bảo của mẹ. Em tránh xa những nơi nguy hiểm.

– Đã nhiều năm rồi mà em vẫn không quên được kĩ niệm buồn thời thơ ấu của em.

Giải chi tiết đề 13 thi kì 1 môn văn lớp 6 Phòng GD & ĐT Tây Hồ

Đề bài

Phần I (6,0 điểm):

Đọc kĩ đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi:

      Vua và đình thần chịu thằng bé là thông minh lỗi lạc. Nhưng vua vẫn còn muốn thử một lần nữa. Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở công quán, bỗng có sử nhà vua mang tới một con chim sẻ, với lệnh bắt họ phải đến thành ba cỗ thức ăn. Em bé nhờ cha lấy cho mình một cái kim may rồi đưa cho sức giả, bảo:

–         Ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.

       Vua nghe nói, từ đó mới phục hắn.

(Theo Nguyễn Đổng Chi, Ngữ văn 6, tập một)

1. Đoạn trích trên nằm trong văn bản nào? Văn bản đó thuộc thể loại gi? Kể tên một văn bản khác em đã học trong chương trình Ngữ văn 6 có cùng thể loại với văn bản này.

2. Vì sao sau khi nghe cách em bé giải đố thì nhà vua “mới phục hẳn”?

3. Tìm hai cụm danh từ trong câu sau:

Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở công quản, bỗng có sứ nhà vua mang tới một con chim sa, với lệnh bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn.

4. Viết đoạn văn từ 5 đến 7 câu trình bày những suy nghĩ của em về nhân vật em bé trong văn bản có chứa đoạn trích trên. Trong đoạn có sử dụng một danh từ chỉ đơn vị (gạch chân và chú thích).

Phần II (4,0 điểm):

Học sinh chọn một trong hai đề văn sau:

Đề 1: Kể về một người mà em yêu quý (người thân, thầy giáo, cô giáo, bạn bè…).

Đề 2: Trẻ em vẫn luôn mơ ước vươn vai một cái là trở thành tráng sĩ như Thánh Gióng. Em hãy tưởng tượng minh mơ thấy Thánh Gióng và nhận được ở ngài những lời khuyên bổ ích. Hãy kể lại giấc mơ ấy.

Lời giải chi tiết

PHẦN I

1.

*Phương pháp: Nhớ lại văn bản “Em bé thông minh”

*Cách giải:

– Đoạn trích trên trích trong văn bản “Em bé thông minh”.

– Văn bản này thuộc thể loại cổ tích.

– Văn bản cùng loại: Thạch Sanh.

2.

*Phương pháp: Đọc hiểu.

*Cách giải:

– Vì trước đó vua vẫn chưa tin, sau khi thử tài lần nữa, em bé giải thích một cách gọn gàng, đầy thuyết phục, không thể phủ nhận, là một sự thật hển nhiên nên nhà vua đã phục hẳn.

3.

*Phương pháp: Nhớ lại bài học “Cụm danh từ”.

*Cách giải:

– Cụm danh từ: hai cha con, một con chim sẻ.

4.

*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.

*Cách giải:

Học sinh nắm chắc kiến thức viết đoạn văn và viết theo yêu cầu đề bài. Gợi ý:

– Yêu cầu hình thức:

+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm đoạn văn.

+ Đoạn văn đầy đủ các phần mở, thân, kết đoạn.

– Yêu cầu nội dung:

+ Đoạn văn xoay quanh nội dung: suy nghĩ về nhân vật em bé.

+ Đoạn văn có sử dụng danh từ chỉ đơn vị.

– Hướng dẫn cụ thể:

Mở đoạn: giới thiệu chung về em bé và văn bản “Em bé thông minh”.

Thân đoạn:

– Em bé là đại diện cho những nhân vật thông minh.

– Sơ lược qua những thử thách mà em đã vượt qua.

– Bảy tỏ sự ngưỡng mộ của em đối với em bé.

Kết đoạn: Niềm mong ước về một đất nước có nhiều nhân tài như em bé.

PHẦN II

Đề 1.

*Phương pháp: Kể chuyện kết hợp miêu tả và biểu cảm.

*Cách giải:

Học sinh nắm chắc kiến thức viết bài văn và viết theo yêu cầu đề bài. Gợi ý:

– Yêu cầu hình thức:

+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm văn bản tự sự.

+ Bài văn đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.

– Yêu cầu nội dung:

+ Bài văn xoay quanh nội dung: kể về người thân mà em yêu quý.

– Hướng dẫn cụ thể: Kể về mẹ.

1. Mở bài: Giới thiệu về mẹ và tình mẫu tử thiêng liêng cao quý.

– Mẹ em người phụ nữ tuyệt vời chỉ có một trên đời.

– Tình mẹ luôn chân thành, thiêng liêng và cao quý, hi sinh suốt đời vì con.

2. Thân bài:

– Mẹ tôi năm nay 35 tuổi

– Dáng vóc: thanh mảnh, làn dan trắng trẻo, mái tóc đen và dài, đôi mắt to tròn, và khuôn mặt phúc hậu.

– Mẹ là người dịu dàng, hòa nhã và luôn đối xử tốt với mọi người. Trong nhà mẹ là người lo lắng, chăm sóc các thành viên trong gia đình.

– Buổi sáng mẹ dậy sớm, chuẩn bị bữa sáng và chuẩn bị cho em đi học và bố đi làm.

– Buổi trưa mẹ giặt giũ quần áo, dọn dẹp nhà cửa, sân vườn gọn gàng, sạch sẽ.

– Buổi tối mẹ chuẩn bị bữa cơm tối cho cả gia đình, nấu những món mà em thích. Bữa ăn là thành quả vất vả của mẹ trong cả ngày.

– Những lúc em không nghe lời, hay mắc lỗi nhưng mẹ cũng không bao giờ lớn tiếng hay dùng đòn roi mà mẹ cần em trình bày rõ chuyện rồi phê bình, nhắc nhở không tái phạm. Mẹ thật tâm lý và tình cảm.

– Mẹ em làm kế toán ở cơ quan công việc thường xuyên bận rộn nấy là cuối tuần. Đây là công việc cần sự tỉ mỉ, cận thận.

– Những lúc rảnh rỗi mẹ thường đọc sách và hướng dẫn em làm bài tập.

– Mẹ luôn cho chu toàn cho gia đình và cả công việc. Mẹ em là người phụ nữ thật tuyệt vời.

3. Kết bài: Bày tỏ tình cảm, sự yêu thương đối với mẹ.

– Mẹ là cả một thế giới, mẹ luôn chăm lo và hi sinh vì con cái.

– Em yêu mẹ rất nhiều và chắc chắn sẽ học thật tốt để mẹ luôn vui.

Đề 2.

*Phương pháp: Kể chuyện tưởng tượng.

*Cách giải:

Học sinh nắm chắc kiến thức viết bài văn và viết theo yêu cầu đề bài. Gợi ý:

– Yêu cầu hình thức:

+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm văn bản tự sự.

+ Bài văn đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.

– Yêu cầu nội dung:

+ Bài văn xoay quanh nội dung: kể lại một giấc mơ em gặp Thánh Gióng.

– Hướng dẫn cụ thể:

1. Mở bài: Giới thiệu chung:

– Buổi sáng, trong giờ Ngữ văn, em được học truyền thuyết Thánh Gióng và câu chuyện thần kì đã cuốn hút em.

– Đến đêm, em mơ mình được gặp Thánh Gióng.

2. Thân bài: Kể lại giấc mơ gặp Thánh Gióng:

– Em mơ thấy một tráng sĩ tư thế oai phong lẫm liệt, đầu đội mũ sắt, cưỡi trên lưng con ngựa sắt, tự xưng là Thánh Gióng.

– Em bày tỏ ước muốn của mình và hỏi Thánh Gióng bí quyết làm thế nào để vươn vai một cái là trở thành tráng sĩ có sức mạnh phi thường.

– Thánh Gióng khuyên em nên chăm chỉ học hành, thường xuyên rèn luyện sức khoẻ để trở thành người có trí tuệ sáng suốt trong một thân thể khỏe mạnh. Như vậy thì mới có ích cho gia đình và xã hội.

3. Kết bài:

* Cảm nghĩ của em:

– Giấc mơ gặp Thánh Gióng thật đẹp và nhiều ý nghĩa.

– Em thấm thía lời khuyên thiết thực của Thánh Gióng, cố gắng phấn đấu thành con người toàn diện.

Giải chi tiết đề 14 thi kì 1 môn văn lớp 6 Trường THCS Lê Qúy Đôn

Đề bài

PHẦN I. ĐỌC – HIỂU (7,0 điểm)

Câu 1. (4,0 điểm)

       Ếch ngồi đáy giếng là một truyện dân gian đặc sắc, mang đến bài học quỷ báu và bổ ích với tất cả chúng ta. Phần đầu truyện viết:

        Có một con ếch sống lâu ngày trong cái giếng nọ. Xung quanh nó chỉ có vài con nhái, cua, ốc bé nhỏ. Hằng ngày nó cất tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng, khiến các con vật kia rất hoảng sợ. Ếch cứ tưởng bầu trời trên đầu chỉ bể bằng chiếc vàng và nỏ thì oai như một vị chúa tể.

(SGK Ngữ Văn 6 tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam)

a. Theo em, Ếch ngồi đáy giếng thuộc thể loại truyện dân gian nào? Nêu những hiểu biết của em về thể loại đó. Kể tên một văn bản khác trong chương trình Ngữ Văn 6 cùng thể loại với truyện Ếch ngồi đáy giếng. (2.5 điểm)

b. Đọc đoạn văn trên, cm hiểu gì về môi trường sống của ếch? Hoàn cảnh ấy có ảnh hưởng như thế nào đến tầm nhìn và tính cách của ếch? (2.0 điểm)

c. Từ câu chuyện của ếch, em rút ra bài học gì cho bản thân mình? (0,5 điểm)

Câu 2. (3,0 điểm)

“Em bé thông minh” là một trong những truyện cổ tích sinh hoạt mà nhân vật trung tâm là người thông minh – kiểu nhân vật rất phổ biến trong kho tàng cổ tích Việt Nam và thế giới. Dưới đây là một đoạn trích:

“Các đại thần đều vò đầu suy nghĩ. Có người dùng miệng hút. Có người bôi sáp vào sợi chỉ cho cứng để cho xâu… Nhưng tất cả mọi cách đều vô hiệu. Bao nhiêu ông trạng và các nhà thông thải được triệu vào đều lắc đầu, bỏ tay. Cuối cùng, triều đình đành nhà thần ra ở công quản để có thời gian đi hỏi ý kiến em bé thông minh nọ.

(SGK Ngữ văn 6, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam)

a. Tim hai cụm danh từ có trong đoạn trích trên và điền vào mô hình cấu tạo của cụm tử. (2.0 điểm)

b. Em có nhận xét gì về câu đố của sứ thần nước láng giềng và cách giải đố của em bé? (1,0 điểm)

PHẢN II. TẬP LÀM VĂN (3.0 điểm)

Em hãy chọn một trong hai đề sau:

Đề 1: Kể về một người thân của em (ông, bà, bố, mẹ…).

Đề 2: Đóng vai một nhân vật kể lại một truyện dân gian mà em đã học trong chương trình Ngữ văn 6.

Lời giải chi tiết

PHẦN I

Câu 1.

a.

*Phương pháp: Nhớ lại văn bản “Ếch ngồi đáy giếng”

*Cách giải:

– Thể loại: truyện ngụ ngôn.

– Truyện ngụ ngôn là truyện kể dân gian bằng văn xuôi hay bằng thơ, mượn chuyện về loài vật, đồ vật, cây cỏ… làm ẩn dụ, hoặc chính chuyện con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện đời, chuyện người, nhằm nêu lên bài học luân lí.

– Văn bản cùng loại: Đeo nhạc cho mèo.

b.

*Phương pháp: Đọc hiểu.

*Cách giải:

– Môi trường sống của ếch: sống trong cái giếng, môi trường nhỏ hẹp, không biết được thế giới bên ngoài.

– Môi trường đó khiến tầm nhìn và sự hiểu biết của ếch bị giới hạn.

c.

*Phương pháp: Đọc hiểu.

*Cách giải:

– Bài học: khiêm tốn, luôn luôn học hỏi và trau dồi kiến thức để trở thành người có ích cho xã hội.

Câu 2.

a.

*Phương pháp: Nhớ lại bài học “Cụm danh từ”

*Cách giải:

– Hai cụm danh từ: tất cả mọi cách đều vô hiệu, em bé thông minh nọ.

– Mô hình cấu tạo cụm từ:

Phần trước

Phần trung tâm

Phần sau

T2

T1

T1

T2

S1

S2

tất cả

mọi

cách

 

đều

hiệu

 

 

em

thông minh

nọ

b.

*Phương pháp: Đọc hiểu.

*Cách giải:

– Nhận xét:

+ Câu đố của sứ thần là một câu đố mẹo, hóc búa, phải sử dụng những kiến thức dân gian mới có thể giải được.

+ Cách giải đố của em bé: cách giải thông minh, khôn khéo, sử dụng những kiến thức từ cuộc sống thường ngày và dân gian để giải đố.

PHẦN II

Đề 1.

*Phương pháp: Kể chuyện kết hợp miêu tả và biểu cảm.

*Cách giải:

Học sinh nắm chắc kiến thức viết bài văn và viết theo yêu cầu đề bài. Gợi ý:

– Yêu cầu hình thức:

+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm văn bản tự sự.

+ Bài văn đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.

– Yêu cầu nội dung:

+ Bài văn xoay quanh nội dung: kể về người thân mà em yêu quý.

– Hướng dẫn cụ thể: Kể về mẹ.

1. Mở bài: Giới thiệu về mẹ và tình mẫu tử thiêng liêng cao quý.

– Mẹ em người phụ nữ tuyệt vời chỉ có một trên đời.

– Tình mẹ luôn chân thành, thiêng liêng và cao quý, hi sinh suốt đời vì con.

2. Thân bài:

– Mẹ tôi năm nay 35 tuổi

– Dáng vóc: thanh mảnh, làn dan trắng trẻo, mái tóc đen và dài, đôi mắt to tròn, và khuôn mặt phúc hậu.

– Mẹ là người dịu dàng, hòa nhã và luôn đối xử tốt với mọi người. Trong nhà mẹ là người lo lắng, chăm sóc các thành viên trong gia đình.

– Buổi sáng mẹ dậy sớm, chuẩn bị bữa sáng và chuẩn bị cho em đi học và bố đi làm.

– Buổi trưa mẹ giặt giũ quần áo, dọn dẹp nhà cửa, sân vườn gọn gàng, sạch sẽ.

– Buổi tối mẹ chuẩn bị bữa cơm tối cho cả gia đình, nấu những món mà em thích. Bữa ăn là thành quả vất vả của mẹ trong cả ngày.

– Những lúc em không nghe lời, hay mắc lỗi nhưng mẹ cũng không bao giờ lớn tiếng hay dùng đòn roi mà mẹ cần em trình bày rõ chuyện rồi phê bình, nhắc nhở không tái phạm. Mẹ thật tâm lý và tình cảm.

– Mẹ em làm kế toán ở cơ quan công việc thường xuyên bận rộn nấy là cuối tuần. Đây là công việc cần sự tỉ mỉ, cận thận.

– Những lúc rảnh rỗi mẹ thường đọc sách và hướng dẫn em làm bài tập.

– Mẹ luôn cho chu toàn cho gia đình và cả công việc. Mẹ em là người phụ nữ thật tuyệt vời.

3. Kết bài: Bày tỏ tình cảm, sự yêu thương đối với mẹ.

– Mẹ là cả một thế giới, mẹ luôn chăm lo và hi sinh vì con cái.

– Em yêu mẹ rất nhiều và chắc chắn sẽ học thật tốt để mẹ luôn vui.

Đề 2.

*Phương pháp: Kể chuyện tưởng tượng.

*Cách giải:

Học sinh nắm chắc kiến thức viết bài văn và viết theo yêu cầu đề bài. Gợi ý:

– Yêu cầu hình thức:

+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm văn bản tự sự.

+ Bài văn đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.

– Yêu cầu nội dung:

+ Bài văn xoay quanh nội dung: kể lại một truyện dân gian em đã học.

– Hướng dẫn cụ thể: Đóng vai Sơn Tinh kể chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh.

1. Mở bài

Giới thiệu về bản thân: được mọi người gọi Sơn Tinh, có tài dời non lấp bể. May mắn lấy được Mị Nương con gái của vua Hùng nhưng lại gây nên oán hận thù sâu với Thủy Tinh.

2. Thân bài

– Kể về lý do của câu chuyện: vua Hùng thứ mười tám kén chồng cho công chúa Mị Nương, con gái của mình nên tới cầu hôn.

– Kể về diễn biến sự việc tranh giành Mị Nương với Thủy Tinh:

+ Vua tổ chức cuộc thi tài kén rể nhưng mãn không tìm được ra người chiến thắng

+ Khi tôi và Thủy Tinh cùng đến cầu hôn, một người ở vùng non cao, một người ở vùng biển, ngang sức ngang tài.

+ Nhà vua ưng ý cả hai người nhưng không biết chọn ai nên truyền mời chư hầu vào bàn bạc.

+ Vua bèn phó rằng nếu ai đem được sính lễ cầu hôn theo yêu cầu tới trước thì sẽ gả con gái cho, tôi mang đầy đủ lễ vật đến trước và rước Mị Nương về.

+ Thủy Tinh căm phẫn, không phục nên dâng nước đuổi đánh tôi khiến kinh thành Phong Châu ngập trong biển nước, nhưng cuôí cùng hắn cũng không thể thay đổi được kết cục.

3. Kết bài

– Hạnh phúc bên người vợ xinh đẹp, nết na.

– Quyết tâm bảo vệ an toàn của nhân dân mỗi khi Thủy Tinh dâng nước gây lũ lụt.

– Khuyên mọi người nên biết yêu cuộc sống thanh bình, biết giúp đỡ nhau trog lúc hoạn nạn, khó khăn nhằm tạo nên một cuộc sống tốt đẹp.

Đề số 15 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

I. PHẦN TIẾNG VIỆT (2.0 điểm)

Câu 1: (0.5 điểm)

Tìm cụm danh từ trong câu sau:

Vua cha yêu thương Mị Nương hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng.

Câu 2: (0.5 điểm)

Có mấy loại động từ chính? Hãy kể ra?

Câu 3: (1 điểm)

Câu sau đây từ nào dung không đúng? Hãy chữa lại cho đúng?

Ngày mai, chúng ta sẽ đi thăm quan nhà công tử Bạc Liêu.

II. PHẦN VĂN BẢN (3.0 điểm)

Câu 1: (1.0 điểm)

Thế nào là truyền thuyết? Kể tên hai truyền thuyết mà em đã học.

Câu 2: (1.0 điểm)

Nêu ý nghĩa của chi tiết thần kì: Tiếng đàn và niêu cơm trong truyện Thạch Sanh.

Câu 3: (1.0 điểm)

Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi khuyên nhủ chúng ta điều gì.

III. PHẦN TẬP LÀM VĂN (5.0 điểm)

Hãy kể lại một việc tốt em đã làm

Lời giải chi tiết

I. PHẦN TIẾNG VIỆT

Câu 1.

Cụm danh từ trong câu:

Một người chồng thật xứng đáng

Câu 2.

– Có hai loại động từ chính.

– Kể ra đúng   

+ Động từ tình thái

+ Động từ chỉ hành động, trạng thái

Câu 3. Từ nhiều nghĩa là từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa.

II. PHẦN VĂN BẢN

Câu 1.

–  Truyện truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo.

– Truyện truyền thuyết mà em đã học: Bánh chưng, bánh giầy, Thánh Gióng, hoặc Sơn Tinh, Thuỷ Tinh.

Câu 2.

Ý nghĩa của chi tiết thần kì: Tiếng đàn và niêu cơm trong truyện “Thạch Sanh”:

– Tiếng đàn thể hiện ước mơ công lý của nhân dân ta-tiếng đàn giải oan, vạch trần tội ác.

– Niêu cơm thể hiện tấm lòng nhân đạo, tư tưởng yêu hòa bình.

Câu 3.

Truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi” khuyên nhủ người ta: Muốn hiểu biết sự vật, sự việc phải xem xét chúng một cách toàn diện.

III. PHẦN TẬP LÀM VĂN

a. Mở bài:

Giới thiệu việc làm tốt.

b. Thân bài:

Kể diễn biến câu chuyện:

– Câu chuyện mở đầu như thế nào?

– Diễn biến ra sao?

– Kết thúc như thế nào?

c. Kết bài:

Cảm nghĩ của em về việc làm đó.

Đề số 16 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

Câu 1: (2,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau:

“Nhà vua lấy làm lạ, cho đưa Thạch Sanh đến. Trước mặt mọi người, chàng kể hết đầu đuôi chuyện của mình, từ chuyện kết bạn với Lí Thông đến chuyện chém chằn tinh, giết đại bàng, cứu công chúa, bị Lí Thông lấp cửa hang và cuối cùng bị bắt oan vào ngục thất. Mọi người bấy giờ mới hiểu ra mọi sự. Vua sai bắt giam hai mẹ con Lí Thông, lại giao cho Thạch Sanh xét xử. Chàng không giết mà cho chúng về quê làm ăn. Nhưng về đến nửa đường thì chúng bị sét đánh chết, rồi bị hóa kiếp thành bọ hung.”

a. Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là gì?

b. Trong đoạn văn trên, mẹ con Lí Thông được Thạch Sanh tha tội chết nhưng vẫn bị trời trừng trị thích đáng. Điều này thể hiện phẩm chất đẹp đẽ nào ở chàng Thạch Sanh, đồng thời gửi gắm ước mơ gì của nhân dân ta?

Câu 2: (3,0 điểm)

a. Giải thích nghĩa của từ : “bụng” trong các ví dụ sau. Chỉ rõ nghĩa gốc, nghĩa chuyển?

– Ăn cho ấm bụng

– Bạn ấy rất tốt bụng

– Chạy nhiều bụng chân rất săn chắc.

b. Cho biết các từ bụng chuyển nghĩa đó, được chuyển nghĩa theo phương thức nào?

Câu 3: (5,0 điểm)

Lớp em có rất nhiều bạn biết phấn đấu vươn lên học tập tốt, trở thành tấm gương sáng cho các bạn noi theo. Hãy kể về một tấm gương tốt trong học tập như thế ở lớp em.

Lời giải chi tiết

Câu 1:

a. Đoạn văn được trích từ văn bản “Thạch Sanh” 

Phương thức biểu đạt chính là tự sự 

b. Trong đoạn văn trên mẹ con Lí Thông được Thạch Sanh tha tội chết nhưng vẫn bị trời trừng trị thích đáng, điều này thể hiện lòng thương người – là một trong những phẩm chất tốt đẹp của Thạch Sanh. Đồng thời gửi gắm ước mơ về sự công bằng: Cái thiện thắng cái ác trong xã hội của nhân dân ta.

Câu 2:

a.

– bụng 1: Dùng với nghĩa gốc: Bộ phận cơ thể người hoặc động vật chứa ruột, dạ dày

– bụng 2: Nghĩa chuyển: Biểu tượng của ý nghĩ sâu kín, không bộc lộ ra, đối với ngưpời, việc nói chung

– bụng 3: Nghĩa chuyển: Phần phình to ở giữa của một số đồ vật, sự vật

b. Hai từ bụng 2, bụng 3 dùng với nghĩa chuyển, chuyển theo phương thức ẩn dụ 

Câu 3:

1. Mở bài:

Giới thiệu chung về người bạn- người bạn đã trở thành tấm gương học tập tốt cho nhiều bạn noi theo.

2. Thân bài:

–  Kể về ngoại hình của bạn: tên tuổi, hình dáng, mái tóc, khuôn mặt…

– Kể về những biểu hiện cụ thể về việc phấn đấu vươn lên học tập tốt của nhân vật 
+ Luôn thực hiện nghiêm túc nội qui, qui định của trường, lớp.

+ Cần cù, chăm chỉ: Chuẩn bị bài đầy đủ, có chất lượng, trong giờ học chú ý nghe giảng, hăng hái phát biểu xây dựng bài, ghi chép bài khoa học, sạch sẽ, đầy đủ.

+ Luôn biết tận dụng thời gian học tập một cách hợp lí

+ Có phương pháp học tập khoa học, sáng tạo

+ Biết khắc phục mọi khó khăn nảy sinh trong cuộc sống để vươn lên học tốt

+ Luôn cởi mở với bạn bè, hay giúp các bạn trong lớp

3.  Kết bài: 

– Cảm nghĩ về bạn

– Tự hứa với mình phải cố gắng, học tập theo gương bạn. 

Đề số 17 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

Câu 1: (1.0 điểm)

Trong truyện Em bé thông minh, em bé đã vượt qua nhiều thử thách. Em hãy kể lại những thử thách đối với em bé theo đúng trình tự.

Câu 2: (2.0 điểm)

Truyện Ếch ngồi đáy giếng ngụ ý phê phán những người như thế nào? Qua truyện, em rút ra bài học gì cho bản thân?

Câu 3: (2,0 điểm)

Nêu nghĩa khái quát của lượng từ. Tìm lượng từ trong các phần trích sau:

a) Các hoàng tử phải cởi giáp xin hàng.

(Thạch Sanh)

b) Tình thương bao la với dân, với nước trước hết phải xuất phát từ tình nghĩa đối với những người thân trong gia đình. Bác Hồ bằng những hành động quan tâm đến người cha đã mang đến cho chúng ta một bài học sâu sắc về đạo làm con.

(Theo Những kỉ niệm cảm động về Bác Hồ)

Câu 4: (5,0 điểm)

Kể lại một kỉ niệm sâu sắc giữa em với thầy giáo hoặc cô giáo.

Lời giải chi tiết

Câu 1: 

Các thử thách gồm:

– Lần 1: Đáp lại câu đố của viên quan – “Trâu cày một ngày được mây đường?”.

– Lần 2: Đáp lại thử thách của vua đối với dân làng – nuôi ba con trâu đực sao cho chúng đẻ thành chín con trong một năm để nộp cho vua.

– Lần 3: Cũng là thử thách của vua – từ một con chim sẻ làm thành ba mâm cỗ thức ăn.

– Lần 4 Câu đố thử thách của sứ thần nước ngoài – xâu một sợi chỉ mảnh qua ruột con ốc vặn rất dài.

Câu 2:

– Truyện ngụ ý phê phán những kẻ hiểu biết hạn hẹp nhưng lại luôn huênh hoang, tự cao.

– Bài học: Chúng ta phải cố gắng mở rộng tầm hiểu biết của mình; không được chủ quan, kiêu ngạo.

Câu 3:

– Lượng từ là những từ chỉ lượng ít hay nhiều của sự vật.

– Xác định lượng từ:

a. Các

b. Những, những

Câu 4:

Mở bài:

– Giới thiệu về thầy/cô giáo mà em sắp kể.

– Kể lại hoàn cảnh và ấn tượng khiến em kính trọng và quý mến cô/thầy giáo.

Thân bài:

– Miêu tả đôi nét về thầy/cô giáo mà em quý mến. Nên tả những nét độc đáo và ấn tượng của thầy/cô giáo.

– Kể về tính tình, tính cách của thầy/cô giáo.

– Kỉ niệm sâu sắc nhất giữa em và thầy/cô giáo là gì?

– Nay đã lên lớp 6, tình cảm của em đối với thầy/cô giáo đó ra sao?

Kết bài: Nêu ra sự kính trọng và yêu mến khi không còn được học với thầy/cô giáo và em sẽ phấn đấu trong việc học tập để không phụ lòng thầy/cô.

Đề số 18 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

I. ĐỌC HIỂU (4 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu dưới đây:

“Một cửa hàng bán cá làm cái biển đề mấy chữ to tướng :

“Ở ĐÂY CÓ BÁN CÁ TƯƠI”

Biển vừa treo lên, có người qua đường xem, cười bảo :

– Nhà này xưa quen bán cá ươn hay sao mà bây giờ phải đề biển là cá “tươi”?

Nhà hàng nghe nói, bỏ ngay chữ “tươi” đi.

Hôm sau, có người khách đến mua cá, cũng nhìn lên biển, cười bảo :

– Người ta chẳng nhẽ ra hàng hoa mua cá hay sao, mà phải đề là “ở đây”?

Nhà hàng nghe nói, bỏ ngay hai chữ “ở đây” đi.

Cách vài hôm, lại có một người khách đến mua cá, cũng nhìn lên biển, cười bảo :

– Ở đây chẳng bán cá thì bày cá ra để khoe hay sao mà phải đề là “có bán”?

Nhà hàng nghe nói lại bỏ ngay hai chữ “có bán” đi. Thành ra biển chỉ còn có mỗi một chữ “cá”. Anh ta nghĩ trong bụng chắc từ bây giờ không còn ai bắt bẻ gì nữa.

Vài hôm sau, người láng giềng sang chơi, nhìn cái biển, nói :

– Chưa đi đến đầu phố đã ngửi mùi tanh, đến gần nhà thấy đầy những cá, ai chẳng biết là bán cá, còn đề biển làm gì nữa?

Thế là nhà hàng cất nốt cái biển!

(Treo biển – SGK Ngữ văn 6, tập một, NXBGD 2016, tr.124)

Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại truyện dân gian gì? Nêu khái niệm của thể loại truyện dân gian đó. hãy kể tên một truyện dân gian cùng loại mà em biết?(0, 75 điểm)

Câu 2: Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy, chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt nào? (0.75 điểm)

Câu 3: Có mấy người “góp ý” về cái biển đề ở cửa hàng bán cá? Em có nhận xét gì về từng ý kiến? (0.75 điểm)

Câu 4: Tìm những chi tiết gây cười trong truyện. Khi nào cái đáng cười bộc lộ rõ nhất? Vì sao? (0.75 điểm)

Câu 5: Qua văn bản trên, tác giả dân gian muốn chế giễu, phê phán điều gì? Nếu nhà hàng bán cá trong truyện nhờ em làm lại cái biển, em sẽ tiếp thu hoặc phản bác những góp ý của bốn người như thế nào hoặc sẽ làm lại cái biển ra sao? (1.0 điểm)

II. LÀM VĂN (6.0 điểm)

Hãy tưởng tượng và kể lại cuộc trò chuyện tâm sự giữa các đồ dùng học tập của em.

Lời giải chi tiết

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1.

– Thể loại: Truyện cười

– Định nghĩa: là loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống nhằm tạo tiếng cười mua vui hoặc phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội.

Câu 2.

– Ngôi thứ 3

– Phương thức biểu đạt: Tự sự

Câu 3.

Có bốn vị khách “góp ý” về tấm biển ở cửa hàng bán cá:

–  Ý kiến thứ nhất đề nghị bỏ chữ “tươi”

–  Ý kiến thứ hai đề nghị bỏ chữ “ở đây”

–  Ý kiến thứ ba đề nghị bỏ chữ “có bán”

–  Ý kiến thứ tư đề nghị bỏ nốt chữ “cá”.

*  Cả bốn ý kiến đều mang tính cá nhân, chủ quan và nguỵ biện.

–   Nếu bỏ chữ “tươi”, là làm mất đi sự khẳng định chất lượng cao của sản phẩm nhà hàng, tuy nhiên cũng có thể được chấp nhận.

–   Đến ý kiến thứ hai đòi bỏ từ chỉ địa điểm “ở đây” mà nhà hàng cũng nghe theo thì đã khiến nội dung biển có phần tối nghĩa và thiếu lịch sự đối với khách hàng.

–   Khi bỏ đi cả chữ “có bán” chỉ để lại một từ “cá” là hết sức vô lí. Nó làm cho nội dung  biển trở nên cụt lủn, tốì nghĩa.

–   Đến ý kiến cuối cùng, đề nghị cất nốt biển đi vì “ai đi tới gần dây đều chẳng ngửi thấy mùi cá tanh lộn lên mà còn phải để từ “cá”. Nhà hàng lại nhắm mắt nghe theo không dùng biển nữa.

Câu 4. Chi tiết buồn cười:

+ Nhà hàng treo một tấm biển thừa thông tin

+ Khi thấy khách hàng chê thì vội vã sửa theo ý khách mà không suy nghĩ.

+ Xóa dần những chữ có trên biển quảng cáo

+ Nhà hàng dẹp biển quảng cáo.

Nhưng cái cười bộc lộ rõ nhất ở cuối truyện. Ớ trên cái biển bị bắt bẻ đến nỗi chỉ còn chữ “cá”. Người qua đường vẫn còn có người góp ý, chữ “cá” và tấm biển treo vẫn là thừa, chủ hàng cất luôn cái biển, thì ta bật cười, tiếng cười vang lên to nhất. Ta cười vì từng góp ý thấy có vẻ có lí nhưng cứ theo đó mà hành động thì kết quả cuối cùng lại thành phi lí. Ta cười to vì người nghe góp ý không biết suy xét, hoàn toàn mất hết chủ kiến.

Câu 5.

* Ý nghĩa

– Treo biển là một truyện hài hước, tạo nên một tiếng cười vui vẻ, phê phán nhẹ nhàng những người thiếu chủ kiến khi làm việc, không suy xét khi nghe những ý kiến khác.

– Khi được người khác góp ý không nên vội vàng hành động theo ngay khi chưa suy xét kĩ. Làm việc gì cũng phải có ý thức, có chủ kiến, biết tiếp thu có chọn lọc ý kiến của người khác.

* Góp ý

– Nên giữ nguyên tấm biển quảng cáo để nội dung được trọn vẹn. Nếu có sửa thì chỉ nên bỏ bớt chữ “Ở đây”.

– Qua truyện này, có thể rút ra bài học về cách dùng từ: từ dùng phải có nghĩa, có lượng thông tin cần thiết, không dùng từ thừa. Từ trong biển quảng cáo phải ngắn gọn, rõ ràng, đáp ứng được mục đích, nội dung quảng cáo.

II. LÀM VĂN

1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề

2. Thân bài

– Đêm đã khuya, tôi không ngủ được thì bỗng nghe tiếng thút thít nơi góc phòng

– Bạn thước kẻ đang khóc, tôi đến hỏi han trò chuyện

– Bạn thước kẻ kể lại nỗi buồn bị cô chủ bỏ quên, làm xước xát, bị gãy

– Các bạn khác đến an ủi động viên và kể nỗi niềm của mình

– …

3. Kết bài: Tổng kết vấn đề

Đề số 19 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

Câu 1 (1.5 điểm):

a. Chi tiết “Gióng đánh giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng về trời” có ý nghĩa như thế nào?

b. Trong truyện Thạch Sanh em ấn tượng nhất hình ảnh nào? Vì sao?

Câu 2 (1.5 điểm):

a. So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa truyện truyền thuyết và truyện cổ tích.

b. Qua câu chuyện “ Ếch ngồi đáy giếng ” em rút ra bài học gì cho bản thân?

Câu 3 (1.5 điểm):

a. Thế nào là cụm danh từ?

b. Hãy tạo thành cụm danh từ cho các danh từ sau: Mưa, ngôi nhà.

c. Đặt câu với hai cụm danh từ vừa tạo thành?

Câu 4 (1.5 điểm):

Em hãy viết một đoạn văn (5-7) dòng với chủ đề về học tập trong đó có sử dụng số từ, lượng từ và chỉ từ (gạch chân dưới những từ loại đó)?

Câu 5 (4 điểm):

Em hãy đóng vai là Mùa xuân để kể lại mùa xuân trên quê hương em mỗi dịp tết đến xuân về.

Lời giải chi tiết

Câu 1:

a. Ý nghĩa của chi tiết trên

– Áo giáp sắt của nhân dân làm cho để Gióng đánh giặc, nay đánh giặc xong trả lại cho nhân dân, vô tư không chút bụi trần,

– Thánh gióng bay về trời, không nhận bổng lộc của nhà vua, từ chối mọi phần thường, chiến công để lại cho nhân dân,

– Gióng sinh ra cũng phi thương khi đi cũng phi thường (bay lên trời).

– Gióng bất tử cùng sông núi, bất tử trong lòng nhân dân.

b.

Ví dụ: chi tiết cây đàn thần.

Vì:

– Cây đàn giúp công chúa khỏi bệnh

– Tiếng đàn của tình yêu

– Tiếng đàn công lý và long yêu chuộng hòa bình

-…

Câu 2:

a. Giống nhau:

– Đều có yếu tố hoang đường, kì ảo.

– Đều có mô típ như sự ra đời kì lạ và tài năng phi thường của nhân vật chính.

Khác nhau:

– Nếu truyền thuyết kể về các nhân vật, sự kiện lịch sử và cách đánh giá của nhân dân đối với những nhân vật, sự kiện được kể thì truyện cổ tích kể về cuộc đời của các nhân vật nhất định và thể hiện niềm tin, ước mơ của nhân dân về công lí xã hội.

b. Bài học: khuyên nhủ chúng ta phải biết mở rộng tầm nhìn, không chủ quna kiêu ngạo.

Câu 3:

a. Cụm danh từ là loại tổ hợp từ do danh từ với một số từ ngữ phụ thuộc tạo thành.

b.

– Mưa: một cơn mưa

– Ngôi nhà: những ngôi nhà

c.

– Mưa: Một cơn mưa rào từ đâu kéo đến.

– Ngôi nhà: Những ngôi nhà thật xinh xắn, đáng yêu.

Câu 4:

Học tập là con đường ngắn nhất giúp chúng ta đạt được thành công nhanh chóng. Có muôn ngàn (lượng từ) các khác nhau để học, nhưng bạn đã tìm ra cách học thực sự hiểu quả chưa? Thứ nhất, cần phải xác định được mục đích, phương hướng học tập đúng đắn. Thứ hai, cần phải có phương pháp học tập hiệu quả: lắng  nghe cô giáo giảng bài, ghi chép, tạo sơ đồ tư duy và làm bài tập để rèn luyện kĩ năng. Thứ ba, không ngại khó khăn, không chùn bước mỗi khi gặp bài khó, tích cực, chủ động để nâng cao năng lực của bản thân. Chỉ khi hội tụ đầy đủ những yếu tố ấy, ta mới có kết quả học tập cao.

Câu 5:

a. Mở bài

Giới thiệu chung về nhân vật tôi (mùa xuân) và sự việc (câu chuyện củamùa xuân quê hương về thiên nhiên và con nguời mỗi dịp tết dến xuânvề.)

b. Thân bài

 Kể lại diễn biến sự việc: Câu chuyện của mùa xuân

+  Mùa Xuân mang lại vẻ đẹp, khơi dậy sức sống cho thiên nhiên đất trời.

– Mỗi khi mùa Xuân đến, thiên nhiên dang tay chào đón như một người bạn thân vừa mới trở về. Mùa xuân đến, tiết trời ấm áp hơn, bầu trờitrong sáng hơn, trong mưa xuân vẫn còn cái lành lạnh như một chútbuồn từ mùa đông còn vương lại.

-Tôi (Mùa Xuân) như nghe được sự sống đang sinh sôi, nảy nở của hạtmầm, nhìn thấy sự vươn dậy của lộc non chồi biếc; nhìn thấy sắc màurực rỡ của những cành đào, những bông hoa ngày Tết và cảm nhận đượccái ngào ngạt của hương xuân… 

+ Mùa Xuân mang lại niềm vui cho con người và cuộc sống của conngười.

 – Cứ mỗi dịp Tết đến, tôi lại rất vui vì được tận mắt chứng kiến biết baoniềm vui, niềm hạnh phúc của con người, gia đình đoàn tụ, sum họp saumột năm tất  bật bận rộn với công việc làm ăn, với cuộc sống.

– Tôi còn vui hơn khi biết rằng mình đã khơi dậy sức sống trong lòngngười, làm cho con người thêm yêu cảnh vật,  làm cho tâm  hồn conngười trong sáng hơn, ấm áp hơn.  

 – Tôi thật hạnh phúc vì mình đã góp phần đem đến cho con người sự noấm, đầy đủ về cuộc sống vật chất.

 – Tôi còn biết gieo vào lòng người những mơ ước về một tương lai tươisáng, về một ngày mai tốt đẹp

c. Kết bài

 – Kể về sự việc kết thúc: Mùa Xuân đến và đi như là một quy luật vĩnhhằng, quy luật tuần hoàn của trời đất. 

 – Tình cảm của Mùa Xuân với thiên nhiên và con người.

Đề số 20 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

I. Phần Đọc – hiểu văn bản: (3,0 điểm)

Câu 1. Hãy nêu sự giống nhau và khác nhau giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười.  (1,0 điểm)

Câu 2. Kể tên các văn bản truyện ngụ ngôn và truyện cười mà em đã được học (hoặc đọc thêm) trong chương trình Ngữ văn lớp 6 (mỗi loại truyện ít nhất hai văn bản).   (1,0 điểm)

Câu 3.

 a) Trong truyện Thạch Sanh, hai nhân vật Thạch Sanh và Lí Thông hoàn toàn đối lập nhau về tính cách. Hãy chỉ ra các phương diện đối lập đó?  (0,5 điểm)

 b) Qua cách kết thúc truyện Thạch Sanh, nhân dân ta muốn thể hiện điều gì(0,5 điểm) 

II. Phần Tiếng Việt: (2,0 điểm)

Câu 1. Đoạn văn sau đây được trích từ một văn bản trong sách Ngữ văn lớp 6 (tập một), nhưng một học sinh viết sai một số danh từ riêng, em hãy viết lại cả đoạn văn cho đúng:

(…) Thủy tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị nương. Thần hô mưa, gọi gió làm thành dông bão rung chuyển cả Đất Trời, dâng Nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn tinh. Nước ngập ruộng đồng, Nước ngập nhà cửa, Nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước.

Câu 2.

a) Tìm các từ láy trong đoạn văn trên. (0,5 điểm)

b) Việc sử dụng các từ láy đó tạo ra hiệu quả gì? (0,5 điểm)

III. Phần Tập làm văn: (5,0 điểm)

Cơn bão số 12 vừa qua đã để lại cho em một kỷ niệm đáng nhớ. Hãy kể lại kỷ niệm đó.

Lời giải chi tiết

I. Phần Đọc – hiểu văn bản:

Câu 1.

Giống nhau:

– Đều có chi tiết gây cười, tình huống bất ngờ.

Khác nhau:

– Nếu mục đích của truyện ngụ ngôn là khuyên nhủ, răn dạy người ta một bài học trong cuộc sống thì mục đích của truyện cười là mua vui, phê phán, chế giễu những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống.

Câu 2.

– Truyện ngụ ngôn: Ếch ngồi đáy giếng; Thầy bói xem voi

– Truyện cười: Treo biển; Lợn cưới áo mới

Câu 3.

– Thạch Sanh là người nhân hậu, độ lượng, trong sáng vô cùng. Luôn tin người, sẵn sàng giúp đỡ người bị hại, không bao giờ nghĩ tới việc người đền ơn. Còn Lí Thông là kẻ vong ân bội nghĩa, xảo trá, gian ác, thấp hèn. Hình tượng nhân vật Thạch Sanh và Lí Thông đại diện cho hai thái cực thiện và ác.

– Thạch Sanh giết chằn tinh, đại bàng, cứu công chúa, Lí Thông hèn nhát đẩy Thạch Sanh thế mạng cho mình nhưng khi Thạch Sanh lập được công lớn thì lại tìm cách cướp công.

– Đó là sự đối lập giữa thiện và ác, chính nghĩa và gian tà. Sự chiến thắng của Thạch Sanh đối với Lí Thông là sự chiến thắng của cái đẹp, cái thiện đối với cái ác, cái xấu.

– Kết truyện Thạch Sanh nhân dân ta muốn gửi gắm thông điệp: mơ ước, niềm tin về đạo đức, công lí xã hội và lí tưởng nhân đạo, yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta.

II. Phần Tiếng Việt:

Câu 1. Thủy Tinh; Mị Nương; đất trời; nước; Sơn Tinh, Phong Châu

Câu 2.

– Từ láy: đùng đùng, cuồn cuộn, lềnh bềnh

– Tác dụng

+ Giúp câu văn trở nên sinh động, dễ hình dung hơn.

+ Diễn tả được sự giận dữ và trận đánh khủng khiếp giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, cũng như hậu quả mà nó để lại.

III. Phần Tập làm văn:

1. Mở bài: giới thiệu về cơn bão và ấn tưởng của em

2. Thân bài

– Kể về trận bão: mưa, gió, sấm chớp, nước cuồn cuộn đổ về,…

– Hậu quả:

+ Quang cảnh thiên nhiên sau cơn bão.

+ Thiệt hại về tài sản

+ Thiệt hại về con người

– Nhận xét về sức tàn phá khủng khiếp của cơn bão và đưa ra phương hướng phòng chống bão.

3. Kết bài: cảm nhận của em sau khi cơn bão đi qua, mong ước cho  tương lai.

Đề số 21 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

Câu 1: (2.0 điểm)

a. Truyện Thánh Gióng thuộc thể loại truyện dân gian nào? Hãy nêu đặc điểm của thể loại truyện dân gian ấy?

b. Chi tiết “Thánh Gióng đánh giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng về trời” có ý nghĩa như thế nào?

Câu 2: (2.0 điểm)

a. Cụm động từ là gì?

b. Tìm các cụm động từ trong những câu sau:

– Em bé đang còn đùa nghịch ở sau nhà

(Em bé thông minh)

– Vua cha yêu thương Mị Nương hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng.

(Sơn Tinh, Thủy Tinh)

Câu 3: (6.0 điểm)

Kể về người thân của em (ông, bà, bố, mẹ, anh chị,…)

Lời giải chi tiết

Câu 1: 

a.

– Thể loại: Truyền thuyết

– Đặc điểm:

+ Là loại truyện dân gian

+ Kể về các nhân vật lịch sự và sự kiện có liên quan đến lịch sử

+ Thường sử dụng yếu tố hoang đường, kì ảo

+ Thể hiện thái độ, cách đánh giá của nhân dân về nhân vật và sự kiện lịch sử

b.

– Áo giáp sắt của nhân dân làm để Gióng đánh giặc, nay đánh giặc xong trả lại cho nhân dân, vô tư không chút bụi trần.

– Thánh Gióng bay về trời, không nhận bổng lộc của nhà vua, từ chối mọi phần thưởng, chiến công để lại cho nhân dân.

– Gióng sinh ra cũng phi thường, khi đi cũng phi thương. Gióng bất tử cùng núi sông và trong lòng nhân dân.

Câu 2:

a. Khái niệm: là loại tổ hợp từ do động từ với một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành. Nhiều  động từ phải có các từ ngữ phụ thuộc đi kèm, tạo thành cụm động từ mới trọn nghĩa.

b. Cụm động từ trong câu

+ Còn đang đùa nghịch ở sau nhà

+ yêu thương Mị Nương hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng.

Câu 3: 

1. Mở bài: Giới thiệu sơ lược về người mà em sẽ kể

2. Thân bài

– Đặc điểm và tính cách nổi bật của người thân

– Người mà kể đã giúp đỡ, bảo ban em thế nào trong học tập và cuộc sống

– Tình cảm của em và người đó ra sao

– Kỉ niệm đáng nhớ giữa em và người thân

3. Kết bài

Tình cảm của em với người thân

Đề số 22 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

I. Trắc nghiệm (2 điểm)

Đọc kĩ đoạn văn và trả lời câu hỏi bằng cách chọn chữ cái trước câu trả lời đúng.

Giặc đã đến chân núi Trâu. Mọi người lo lắng sợ hãi, vừa lúc đó, các thứ mà Gióng cần đã xong, sứ giả vội đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Gióng đứng dậy vươn vai trở thành một tráng sĩ lực lưỡng, chàng mặc áo giáp vào, cầm roi thúc mông ngựa, ngựa hí một tiếng vang trời. Gióng nhảy lên lưng ngựa, ngựa phun lửa phi thẳng đến nơi có giặc, Gióng vung một roi, hàng chục tên giặc chết như ngả rạ, giặc chạy không kịp, bị roi sắt của Gióng giáng vào người. Bỗng nhiên roi sắt gãy, Gióng nhanh trí nhổ những bụi tre bên đường làm vũ khí. Thế giặc tan vỡ, chúng giẫm đạp lên nhau bỏ chạy, Gióng thúc ngựa đuổi đến chân núi Sóc Sơn. Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời.

Câu 1: Đoạn văn trên trích từ văn bản nào

A. Em bé thông minh

B. Sơn Tinh Thủy Tinh

C. Thạch Sanh

D. Thánh Gióng

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là gì

A. Tự sự B. Miêu tả

C. Biểu cảm D. Nghị luận

Câu 3: Cụm từ nào trong câu sau là cụm danh từ:

Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc

A. Tráng sĩ bèn nhổ

B. Những cụm tre cạnh đường

C. quật vào giặc

D. những cụm tre cạnh đường quật vào giặc

Câu 4: Chi tiết sau đây có ý nghĩa gì?

“Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời”.

A. Hình ảnh Gióng bất tử trong lòng nhân dân

B. Gióng xả thân vì nghĩa lớn, không hề đòi công danh, phú quý

C. Dấu tích của chiến công, Gióng để lại cho quê hương, xứ sở.

D. Cả A B C

II. Tự luận

Câu 1: Thế nào là truyện ngụ ngôn? Kể tên các truyện ngụ ngôn mà em đã học và đọc thêm trong chương trình Ngữ văn 6 (tập 1)

Câu 2: Hãy giải thích nghĩa các từ “xuân” trong câu sau và cho biết từ nào dung theo nghĩa gốc từ nào dùng theo nghĩa chuyển.

Mùa xuân là tết trồng cây

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

(Hồ Chí Minh)

Câu 3: Mẹ là người đã sinh ra em, là người dìu dắt, che chở cho em trong cuộc sống. Hãy viết một bài văn kể về mẹ của em.

Lời giải chi tiết

I. Trắc nghiệm

1 2 3 4
D A B D

I. Tự luận

Câu 1:

– Khái niệm: Truyện ngụ ngôn là loại truyện kể bằng văn vần hoặc văn xuôi, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hay về chính con người để bói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống.

– Truyện ngụ ngôn:

+ Ếch ngồi đáy giếng

+ Thầy bói xem voi

+ Đeo nhạc cho mèo

+ Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng

Câu 2:

– Từ xuân trong câu 1 dùng theo nghĩa gốc: chỉ một mùa trong năm, thời tiết ấm lên, được coi là thời điểm mở đầu một năm

– Từ xuân trong câu 2 dùng theo nghĩa chuyển: chỉ sự tươi đẹp, giàu có của đất nước

Câu 3:

1. Mở bài: Giới thiệu chung về mẹ của em

2. Thân bài

– Giới thiệu về hình dáng, tuổi tác, tính tình, công việc

– Kể về sở thích của mẹ

– Kể về sự quan tâm, chăm sóc của mẹ với cả nhà

– Kể về tình yêu thương đặc biệt mẹ dành cho em (kỉ niệm giữa em và mẹ)

3. Kết bài: Cảm nghĩa về mẹ

Đề số 23 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

Phần I: (5 điểm)

Câu 1: Cho đoạn văn

“Vua sai bắt giam hai mẹ con Lý Thông, lại giao cho Thạch Sanh xét xử. Chàng không giết mà cho chúng về quê làm ăn. Nhưng về đến nửa đường thì chúng bị sét đánh chết, rồi bị hóa kiếp thành bọ hung”

a. Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là gì?

b. Xác định một cụm danh từ trong đoạn văn trên

c. Trong đoạn văn trên, mẹ con Lý Thông được Thạch Sanh tha tội chết nhưng vẫn bị trời trừng trị thích đáng. Điều này thể hiện phẩm chất đẹp đẽ nào của Thạch Sanh đồng thời gửi gắm mơ ước gì của nhân dân ta.

Câu 2:

“Ếch ngồi đáy giếng” là một trong những truyện ngụ ngôn tiêu biểu có ý nghĩa giáo huấn tự nhiên mà sâu sắc.

a. Thế nào là truyện ngụ ngôn. Kể tên hai truyện ngu ngôn em đã học.

b. Cho câu chủ đề: “Truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng đã để lại cho chúng ta nhiều bài học có giá trị trong cuộc sống”.

Dựa vào hiểu biết của em về câu chuyện trên, em hãy viết tiếp 7-8 câu văn làm sáng tỏ câu chủ đề (trong đoạn văn có sử dụng 1 chỉ từ)

Phần II. (5 điểm)

Đề 1: Kể về một tình bạn đẹp của em

Đề 2: Có một lần em mắc lỗi và bị biến thành con vật lang thang trong ba ngày. Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó.

Lời giải chi tiết

Phần I:

Câu 1:

a.

– Tác phẩm: Thạch Sanh

– Phương thức biểu đạt: Tự sự

b. Cụm danh từ: hai mẹ con Lý Thông

c.

– Phẩm chất: nhân hậu, hiền lành.

– Mơ ước: Những kẻ độc ác, chuyên đi hại người khác sẽ nhận quả báo. Niềm tin và mơ ước về công lý và công bằng trong xã hội.

Câu 2:

a.

– Khái niệm: Truyện ngụ ngôn là loại truyện kể bằng văn vần hoặc văn xuôi, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hay về chính con người để bói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống.

– Hai truyện ngụ ngôn: Ếch ngồi đáy giếng, Thầy bói xem voi

b.

– Truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng đã để lại cho chúng ta nhiều bài học có giá trị trong cuộc sống.

– Truyện phê phán những kẻ hiểu biết hạn hẹp mà lại huênh hoang.

– Khuyên chúng ta:

+ Học tập không ngừng để mở rộng tầm hiểu biết

+ Không được chủ quan, kiêu ngạo

+ Phải luôn biết khiêm tốn, học hỏi không ngừng

+ …

Phần II:

Đề 1:

I. Mở bài: giới thiệu về người bạn thân của em

II. Thân bài: kể về một người bạn thân của em

– Kể về ngoại hình của bạn

– Kể về tính cách của bạn

– Kể về hành động của bạn

– Kỉ niệm đẹp đẽ, sâu sắc giữa hai người

III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về người bạn thân của em

Đề 2:

I. Mở bài

Nguyên nhân khiến em phải biến thành con vật.

II. Thân bài

Bài văn cần đảm bảo được các ý sau :

– Em mắc lỗi lầm gì và bị biến thành con vật nào ?

– Câu chuyện của em trong ba ngày đó :

+ Em sống ở đâu, như thế nào ?

+ Quan hệ với các con vật khác ra sao ?

+ Cảm xúc của em về cuộc sống đó ?

III. Kết bài

Cảm nghĩ của em sau khi trở lại làm người.

Đề số 24 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

I. PHẦN TRẮC NGHIỆM (3,0 điểm)

Thí sinh chọn chữ cái chỉ kết quả mà em chọn là đúng và ghi vào tờ giấy làm bài.

Câu 1: Văn bản Sự tích Hồ Gươm có nội dung liên quan đến sự kiện lịch sử nào ở nước ta ?

A. Chống giặc Ân  

B. Chống giặc Mông-Nguyên  

C. Chống giặc Minh  

D.Chống giặc Thanh

Câu 2: Trong các văn bản sau, văn bản nào có nội dung đề cao ân nghĩa trong đạo làm người ?

A. Thánh Gióng 

B. Mẹ hiền dạy con   

C. Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng

D. Con hổ có nghĩa

Câu 3: Văn bản nào sau đây không thuộc thể loại truyện ngụ ngôn ?

A. Thầy bói xem voi  

B. Ếch ngồi đáy giếng   

C. Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng

D. Ông lão đánh cá và con cá vàng

Câu 4: Nhân vật Mã Lương trong truyện Cây bút thần thuộc kiểu nhân vật nào sau đây ?

A. Nhân vật thông minh

B. Nhân vật dũng sĩ

C. Nhân vật bất hạnh

D. Nhân vật có tài năng kỳ lạ

Câu 5: Câu ca dao sau đây dùng phương thức biểu đạt nào ?

Trúc xinh trúc mọc đầu đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh.

A. Tự sự B. Miêu tả

C. Biểu cảm D. Nghị luận

Câu 6: Trường hợp nào dưới đây có từ tay được dùng theo nghĩa chuyển ?

A. Chị ấy có tay chăn nuôi

B. Mai có đôi bàn tay rất đẹp

C. Nó vừa trao tay tôi chiếc khăn

D. Làm việc nhiều hai tay rất mỏi

Câu 7: Tập hợp các từ nào sau đây có thể đứng trước danh từ trung tâm trong cụm danh từ ?

A. này, nọ, lắm 

B. cả, toàn thể, mấy  

C. kia, đó, những 

D. các, quá, nọ

Câu 8: Từ loại nào khi làm vị ngữ cần có từ đứng trước ?

A. Danh từ                  B. Động từ

C. Tính từ                    D. Chỉ từ

Câu 9: Từ nào dưới đây là từ mượn gốc Hán ?

A. Xà phòng                B. Cà phê  

C. Đồng chí                 D. Ni lông 

Câu 10: Động từ nào sau đây cần có động từ khác đi kèm ?

A. đọc                         B. dám

C. ghét                        D. đứng

Câu 11: Dòng nào dưới đây chứa những từ bổ sung cho động từ về quan hệ thời gian trong cụm động từ ?

A. đừng, đang, vẫn  

B. chớ, cũng, sẽ  

C. đã, sẽ, đang  

D. hãy, đừng, chớ

Câu 12: Thế nào là chủ đề trong văn bản ?

A. Là nội dung mà văn bản biểu thị  

B. Là vấn đề chủ yếu được đặt ra trong văn bản

C. Là đề tài mà văn bản thể hiện 

D. Là nhân vật và sự việc được nói tới trong văn bản

II. PHẦN TỰ LUẬN: (7,0 đ)

Câu 1: (3.0 điểm)Học sinh đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu a, b, c, d.

TREO BIỂN

Một cửa hàng bán cá làm cái biển đề mấy chữ to tướng:

“ Ở ĐÂY CÓ BÁN CÁ TƯƠI”

Biển vừa treo lên, có người qua đường xem, cười bảo:

– Nhà này xưa quen bán cá ươn hay sao mà bây giờ phải đề biển là cá “tươi”?

Nhà hàng nghe nói, bỏ ngay chữ “tươi” đi.

Hôm sau, có người khách đến mua cá, cũng nhìn lên biển, cười bảo:

– Người ta chẳng nhẽ ra hàng hoa mua cá hay sao mà phải đề là “ở đây”?

Nhà hàng nghe nói, bỏ ngay hai chữ “ở đây” đi.

Cách vài hôm, lại có một người khách đến mua cá, cũng nhìn lên biển, cười bảo:

Ở đây chẳng bán cá thì bày cá ra để khoe bay sao mà phải đề là “có bán”?

Nhà hàng nghe nói lại bỏ ngay hai chữ “có bán” đi. Thành ra biển chỉ còn có mỗi một chữ “cá”. Anh ta nghĩ trong bụng chắc từ bây giờ không còn ai bắt bẻ gì nữa.

Vài hôm sau, người láng giềng sang chơi, nhìn cái biển, nói:

Chưa đi đến đầu phố đã ngửi mùi tanh, đến gần nhà thấy đầy những cá, ai chẳng biết là bán cá, còn đề biển làm gì nữa?

Thế là nhà hàng cất nốt cái biển!

(Theo Trương Chính)

a. Treo biển là một truyện cười. Em hãy nêu khái niệm truyện cười.

b. Giải thích nghĩa từ bắt bẻ trong văn bản.

c. Gạch chân các cụm danh từ trong phần trích sau:

Một cửa hàng bán cá làm cái biển đề mấy chữ to tướng:

d. Viết một câu hoàn chỉnh nêu nhận xét của em về nhân vật ông chủ nhà hàng trong truyện.

Câu 2: (4.0 điểm)

Hãy viết bài văn tự sự  kể tóm tắt một truyện cổ tích mà em biết.

Lời giải chi tiết

I. PHẦN TRẮC NGHIỆM

1 2 3 4 5 6
C D D D C A
7 8 9 10 11 12
B A C B C B

I. PHẦN TỰ LUẬN:

Câu 1:

a. Khái niệm truyện cười: loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống nhằm tạo ra tiếng cười mua vui hoặc phê phán những thói hư, tật xấu trong xã hội.

b. Bắt bẻ: vặn hỏi, gây khó khăn cho người bị hỏi.

c. Gạch chân các cụm danh từ

Một cửa hàng bán cá làm cái biển đề mấy chữ to tướng

d. Ông chủ nhà hàng là người thiếu chủ kiến khi làm việc, không suy xét kĩ khi nghe những ý kiến khác

Câu 2:

A. Mở bài:  Giới thiệu câu chuyện

B. Thân bài: Kể diễn biến câu chuyện

– Câu chuyện mở đầu như thế nào?

– Các sự việc phát triển ra sao?

– Kể kết thúc câu chuyện

C. Kết bài: Ý nghĩa của câu chuyện

Đề số 25 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

Câu 1 (2 điểm):

a. Thế nào là danh từ? Cho một số ví dụ?

b. Chọn một ví dụ danh từ em vừa nêu trên, hãy tạo thành một cụm danh từ rồi đặt câu với cụm danh từ đó.

Câu 2 (2 điểm):

a) Nêu định nghĩa Truyền thuyết?

b) Kể tên bốn truyền thuyết em đã được học trong học kỳ 1.

Câu 3 (6 điểm):

Hãy kể về một người bạn mà em quý mến nhất.

Lời giải chi tiết

Câu 1:

a. danh từ (là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm…

ví dụ: bông hoa, nhà…

b. Cụm danh từ: những bông hoa

Đặt câu: những bông hoa đằng kia thật đẹp

Câu 2:

a. Loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng, kì ảo. Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể.

b. Con Rồng, cháu Tiên; Bánh chưng, bánh giầy; Thánh Gióng; Sơn Tinh, Thủy Tinh; Sự tích Hồ Gươm.

Câu 3:

a) Mở bàiGiới thiệu chung về người bạn được kể…

b) Thân bài: Tập trung kể về người bạn đó:

– Kể về hình dáng, tính tình, sở thích.

– Kể về việc làm (cách cư xử đối với mọi người trong gia đình, hàng xóm…).

– Thái độ đối với em, những kỷ niệm với bạn…

c) Kết bài: Cảm xúc, suy nghĩ về người bạn…

Đề số 26 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

I. VĂN – TIẾNG VIỆT: (4 điểm)

Câu 1: (1 điểm)

Kể tên những thể loại truyện dân gian mà em đã được học trong chương trình Ngữ văn lớp 6 (Học kì I)

Câu 2: (1 điểm)

Qua văn bản Treo biển, em rút ra bài học gì cho bản thân?

Câu 3: (2 điểm)

Cho hai danh từ sau: ngôi nhà, học sinh

a) Hãy tạo thành cụm danh từ với mỗi danh từ trên.

b) Đặt câu với hai cụm danh từ vừa tạo thành.

II. LÀM VĂN: (6 điểm)

Hãy kể lại một bữa cơm của gia đình em, mà em ấn tượng nhất.

Lời giải chi tiết

I. VĂN – TIẾNG VIỆT:

Câu 1:

Những thể loại truyện dân gian trong chương trình Ngữ văn lớp 6

 + Truyện truyền thuyết

 + Truyện cổ tích

 + Truyện ngụ ngôn

 + Truyện cười

Câu 2:

Bài học rút ra từ văn bản Treo biển :

  + Phải biết tiếp thu có chọn lọc ý kiến của người khác. Luôn phân tích từng ý kiến góp ý để lựa chọn được góp ý chính xác nhất

  + Phê phán những người hành động thiếu chủ kiến.

Câu 3:

a) Tạo cụm danh từ

ngôi nhà mới xây ấy

những học sinh đằng kia

b) Đặt câu có chứa cụm danh từ vừa tạo thành

Ngôi nhà mới xây ấy mới đẹp làm sao

Những học sinh đằng kia đang chơi đùa thật vui

II. LÀM VĂN

Mở bài:

– Giới thiệu về bữa cơm của gia đình em, mà em ấn tượng nhất.

Thân bài:

– Kể về sự chuẩn bị bữa cơm của các thành viên trong gia đình.

– Kể diễn biến bữa ăn:(Các món ăn; hoạt động: trò chuyện, hỏi thăm, động viên,… giữa các thành viên trong gia đình, tâm trạng của mọi người…)

– Sau bữa ăn: tâm trạng, hoạt động của các thành viên trong gia đình.

Kết bài:

-Suy nghĩ của em về bữa cơm gia đình.

– Liên hệ trách nhiệm của bản thân.

Đề số 27 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

Câu 1: (1 điểm)

Kể tên các truyện truyền thuyết đã học hoặc đọc thêm trong chương trình Ngữ văn 6 tập 1?

Câu 2:( 2 điểm)

Cho câu văn sau: “Viên quan đã đi nhiều nơi, đến đâu cũng ra những câu đố oái oăm để hỏi mọi người”.

(Em bé thông minh)

a) Xác định cụm động từ trong câu văn trên. (1 điểm)

b) Hãy phân tích mô hình cấu tạo của cụm động từ đó. (1 điểm)

Câu 3 :(7 điểm)

Kể về một người thân của em ( ông, bà, cha, mẹ, anh, chị em…)

Lời giải chi tiết

Câu 1:

Các truyện truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn 6 tập 1: Con Rồng, cháu Tiên, Bánh chưng, bánh giầy, Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Sự tích Hồ Gươm.

Câu 2:

a) Xác định cụm động từ: đã đi nhiều nơi, cũng ra những câu đố oái oăm để hỏi mọi người

b) Phân tích mô hình cấu tạo của cụm động từ đó:

đã // đi // nhiều nơi

PT TT PS

Câu 3:

 Mở bài:

– Giới thiệu những nét chung về người thân em kể.

– Tình cảm ban đầu của em.

Thân bài:

– Kể về lí lịch, ngoại hình, hành động, lời nói

– Kể về tính cách, việc làm.

– Kể về một kỉ niệm sâu đậm giữa em và người đó

– Kể về tình cảm của người thân giành cho mọi người trong gia đình và em.

– Kể về mối quan hệ giữa người ấy đối với mọi người xung quanh.

 Kết bài.

– Tình cảm của em giành cho người thân đó.

Đề số 28 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

Câu 1: (1 điểm)

Kể tên các truyện truyền thuyết đã học hoặc đọc thêm trong chương trình Ngữ văn 6 tập 1

Câu 2: ( 2 điểm)

Cho câu văn sau: “Vua cha yêu thương Mị Nương hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng”.

(Sơn Tinh, Thủy Tinh)

a, Xác định cụm danh từ trong câu văn trên. (1 điểm)

b, Hãy phân tích mô hình cấu tạo của cụm danh từ đó. (1 điểm)

Câu 3 : (7 điểm)

Kể về một thầy ( cô ) giáo mà em quý mến.

Lời giải chi tiết

Câu 1:

Các truyện truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn 6 tập 1:Con Rồng, cháu Tiên, Bánh chưng, bánh giầy, Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Sự tích Hồ Gươm.

Câu 2:

a) Xác định cụm danh từ: – một người chồng thật xứng đáng.

b) Phân tích mô hình cấu tạo của cụm danh từ đó.

Một // người chồng // thật xứng đáng

 PT               TT                   PS

Câu 3:

a. Mở bài

Giới thiệu thầy cô giáo mà em yêu quý

b. Thân bài

– Kể đôi nét về ngoại hình của thầy cô giáo

– Kể về đặc điểm tính cách, hành động của cô với các bạn học sinh, những người xung quanh

– Kể về kỉ niệm của em và thầy/cô giáo

c. Kết bài

Cảm nghĩ chung về cô giáo

Đề số 29 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

Câu 1. (2,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

… Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ, bèn sai sứ giả đi khắp nơi rao tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tiếng rao, bỗng dưng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”.

(SGK Ngữ văn 6, tập I, NXBGD, trang 19)

a. Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Xác định thể loại của tác phẩm đó.

b. Nhân vật chính trong tác phẩm là ai?

c. Cho biết ý nghĩa của chi tiết “Tiếng nói đầu tiên của chú bé là tiếng nói đòi đi đánh giặc”?

Câu 2. (2,0 điểm)

Chép lại chính xác đoạn trích sau và trả lời các yêu cầu ở bên dưới :

Hồi ấy, ở Thanh Hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ.

(Sự tích Hồ Gươm)

a. Gạch chân (1 gạch) dưới các cụm danh từ.

b. Gạch chân (2 gạch) dưới các chỉ từ.

c. Gạch chân (3 gạch) dưới các danh từ riêng.

d. Khoanh tròn các số từ

Câu 3. (5,0 điểm)

Kể về một người em  yêu quý nhất.

Lời giải chi tiết

Câu 1:

a. Tác phẩm: Thánh Gióng – Thể loại: Truyện truyền thuyết

b. Thánh  Gióng

c. Ý nghĩa của chi tiết “Tiếng nói đầu tiên…giặc”:

+ Ca ngợi ý thức đánh giặc, cứu nước trong hình tượng Gióng.

+ Ý thức đánh giặc, cứu nước tạo cho người anh hùng những khả năng, hành động khác thường, thần kì.

+ Gióng là hình ảnh của nhân dân. Nhân dân, lúc bình thường thì âm thầm, lặng lẽ. Nhưng khi nước nhà có giặc ngoại xâm thì họ sẵn sàng đứng lên cứu nước…

Câu 2:

a. Gạch chân dưới các cụm danh từ:

+ hồi ấy

+ một người làm nghề đánh cá

+ một đêm nọ

+ một bến vắng

b. Gạch chân (2 gạch) dưới các chỉ từ:

 + ấy

 +  nọ

c. Gạch chân (3 gạch) dưới các danh từ riêng;

+ Thanh Hoá

+ Lê Thận

+ Thận

d. Khoanh tròn các số từ : một , một, một

Câu 3:

a) Mở bài

– Giới thiệu người bạn thân và tình cảm của em…

 b) Thân bài

– Kể, tả đặc điểm về ngoại hình, tính tình của bạn.

– Kể về việc làm, sở thích…của bạn.

– Tình cảm của em với bạn:

+ Bạn là người chia sẻ niềm vui nỗi buồn…

+ Bạn giúp đỡ trong học tập…

+ Kỉ niệm sâu sắc với bạn…

c) Kết bài

– Cảm nghĩ của em về bạn.

Đề số 30 – Đề kiểm tra học kì 1 (Đề thi học kì 1) – Ngữ văn 6

Đề bài

Câu 1. (2,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

….. Nhà vua gả công chúa cho Thạch Sanh.Lễ cưới của họ tưng bừng nhất kinh kì, chưa bao giờ và chưa ở đâu có lễ cưới tưng bừng như thế.Thấy vậy hoàng tử các nước chư hầu trước kia bị công chúa từ hôn lấy làm tức giận.Họ hội binh lính cả mười tám nước kéo sang đánh. Thạch Sanh xin nhà  vua đừng động binh.Chàng một mình cầm cây đàn ra trước quân giặc.Tiếng đàn của chàng vừa cất lên thì quân sĩ mười tám nước bủn rủn tay chân,không còn nghĩ được gì đến chuyện đanh nhau nữa.

(SGK Ngữ văn 6, tập I, NXBGD, trang 64-65)

a. Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Xác định thể loại của tác phẩm đó.

b. Nhân vật chính trong tác phẩm là ai?

c. Cho biết ý nghĩa của chi tiết “Tiếng đàn thần ”?

Câu 2. (2,0 điểm)

Chép lại chính xác đoạn trích sau và trả lời các yêu cầu ở bên dưới :

Một năm sau khi đuổi giặc,một hôm Lê Lợi  cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng.Nhân dịp đó,Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại thanh gươm thần ấy.

(Sự tích Hồ Gươm)

a) Gạch chân (1 gạch ) dưới các cụm danh từ.

b) Gạch chân (2 gạch ) dưới các chỉ từ.

c) Gạch chân ( 3 gạch) dưới các danh từ riêng.

 

d) Khoanh tròn các số từ

Câu 3. (5,0 điểm)

Kể về một người em  yêu quý nhất

Lời giải chi tiết

Câu 1:

a.

– Tác phẩm: Thạch Sanh

– Thể loại: Truyện cổ tích

b.

– Nhân vật chính: Thạch Sanh

c. 

– Ý nghĩa của chi tiết “Tiếng đàn thần”:

+  Tiếng đàn giúp Thạch Sanh được giải oan, giải thoát, giúp cho công chúa biết nói, vạch mặt Lý Thông 

⟶ Đó là tiếng đàn công lí thể hiện quan niệm và ước mơ của nhân dân: Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác.

– Tiếng đàn làm cho quân 18 nước chư hầu phải cởi giáp xin hàng

⟶ Đó là vũ khí đặc biệt để cảm hóa kẻ thù. Tiếng đàn là đại diện cho cái thiện và tinh thần yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta.

Câu 2:

a.

Gạch chân dưới các cụm danh từ:

+ Một năm sau

+ một hôm

+ nhân dịp đó

+  thanh gươm thần ấy.

b. Gạch chân (2 gạch) dưới các chỉ từ:

 + đó

 +  ấy

c. Gạch chân ( 3 gạch ) dưới các danh từ riêng; ( 1 điểm)

+ Lê Lợi

+ Tả Vọng

+ Long Quân

+ Rùa vàng

d. Khoanh tròn các số từ : một , một

Câu 3:

a) Mở bài

– Giới thiệu người bạn thân và tình cảm của em…

 b) Thân bài

– Kể, tả đặc điểm về ngoại hình, tính tình của bạn.

– Kể về việc làm, sở thích…của bạn.

– Tình cảm của em với bạn:

+ Bạn là người chia sẻ niềm vui nỗi buồn…

+ Bạn giúp đỡ trong học tập…

+ Kỉ niệm sâu sắc với bạn…

c) Kết bài

– Cảm nghĩ của em về bạn.

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 31 thi Học kì 1

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Phần I: ĐỌC HIỂU VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (4 điểm) 

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Mấy hôm sau, về tới quê nhà.

Cái hang bỏ hoang của tôi, cỏ và rêu xanh đã kín lối vào. Nhưng đằng cuối bãi, mẹ tôi vẫn mạnh khoẻ. Hai mẹ con gặp nhau, mừng quá, cứ vừa khóc vừa cười.

Tôi kể lại từ đầu chí cuối những ngày qua trong may rủi và thử thách mà bấy lâu tôi trải. Bắt đầu từ chuyện anh Dế Choắt khốn khổ bên hàng xóm.

Nghe xong, mẹ tôi ôm tôi vào lòng, y như người ôm ẵm khi mới sinh tôi và bảo rằng:

– Con ơi, mẹ mừng cho con đã qua nhiều nỗi hiểm nguy mà trở về. Nhưng mẹ mừng nhất là con đã rèn được tấm lòng chín chắn thật đáng làm trai. Bây giờ con muốn ở nhà mấy ngày với mẹ, rồi con đi du lịch xa mẹ cũng bằng lòng, mẹ không áy náy gì về con đâu. Thế là con của mẹ đã lớn rồi. Con đã khôn lớn rồi. Mẹ chẳng phải lo gì nữa.

Mẹ tôi nói thế rồi chan hoà hàng nước mắt sung sướng và cảm động. Tôi nhìn ra cửa hang, nơi mới ngày nào còn trứng nước ở đây và cũng cảm thấy nay mình khôn lớn.

Tôi ở lại với mẹ:

– Mẹ kính yêu của con! Không bao giờ con quên được lời mẹ. Rồi mai đây con lên đường, con sẽ hết sức tu tỉnh được như mẹ mong ước cho con của mẹ.

(Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu ký, NXB Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 41)

Câu 1. Đoạn trích được kể bằng lời của người kể chuyện ngôi thứ mấy? Em căn cứ

vào yếu tố nào để xác định ngôi kể?

Câu 2. Đoạn trích trên nằm ở vị trí trước hay sau đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên? Những chi tiết nào giúp em nhận biết được điều đó?

Câu 3. Lời nói của mẹ Dế Mèn thể hiện những cảm xúc gì sau khi nghe con kể lại những thử thách đã trải qua?

Câu 4. Điều gì khiến mẹ Dế Mèn thấy con đã lớn khôn và không còn phải lo lắng về con nữa?

Câu 5. Nêu cảm nhận về nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích trên. Em hãy so sánh với Dế Mèn trong đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên và cho biết sự khác biệt lớn nhất ở Dế Mèn trong hai đoạn trích này là gì.

Câu 6. Kẻ bảng vào vở (theo mẫu) và điền các từ in đậm trong đoạn trích sau vào ô phù hợp:

Nhưng đằng cuối bãi, mẹ tôi vẫn mạnh khoẻ. Hai mẹ con gặp nhau, mừng quá, cứ vừa khóc vừa cười.

Tôi kể lại từ đầu chí cuối những ngày qua trong may rủi và thử thách mà bấy lâu tôi trải. Bắt đầu từ chuyện anh Dế Choắt khốn khổ bên hàng xóm.

TỪ ĐƠN

TỪ PHỨC

TỪ GHÉP

TỪ LÁY

     

Câu 7. Giải thích nghĩa của các từ in đậm trong những câu sau:

a. Tôi nhìn ra cửa hang, nơi mới ngày nào còn trứng nước ở đây và cũng cảm thấy nay mình khôn lớn.

b. Rồi mai đây con lên đường, con sẽ hết sức tu tỉnh được như mẹ mong ước cho con của mẹ.

Phần II: VIẾT (3 điểm)

Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em. 

Phần III. NÓI VÀ NGHE (3 điểm)

Hãy kể lại một chuyến đi đáng nhớ của em. 

ĐÁP ÁN

Phần I: ĐỌC HIỂU VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (4 điểm) 

Câu 1. Đoạn trích được kể bằng lời của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất.

Người kể chuyện xưng “tôi” và kể về những gì mình trực tiếp chứng kiến, tham gia vào câu chuyện.

Câu 2. Đoạn trích trên nằm ở vị trí sau đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên.

Những chi tiết nào giúp em nhận biết được điều đó là:

– Thời gian, không gian: mấy hôm sau, về tới quê nhà.

– Hình ảnh cái hang bị bỏ hoang của Dế Mèn.

– Sự việc đầu tiên mà Dế Mèn kể lại cho mẹ nghe: Bắt đầu từ chuyện anh Dế Choắt khốn khổ bên hàng xóm.

Câu 3. Mẹ Dế Mèn vui mừng vì con đã trở về sau bao nguy hiểm; tự hào khi thấy con biết học hỏi từ những sai lầm để trưởng thành; yên tâm vì con đã vững vàng sau nhiều thử thách;…

Câu 4. Điều gì khiến mẹ Dế Mèn thấy con đã lớn khôn và không còn phải lo lắng về con nữa chính là Dế Mèn đã rèn được tấm lòng chín chắn thật đáng làm trai.

Câu 5. Cảm nhận về Dế Mèn qua hai đoạn trích:

– Dế Mèn trong đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên kiêu căng, ngạo mạn, bắt nạt, coi thường người khác, nghịch ranh gây ra hậu quả nặng nề,…

– Dế Mèn trong đoạn trích ở bài tập 4 đã trải qua nhiều hiểm nguy, thử thách và cả những sai lầm. Đặc biệt, Dế Mèn đã biết nhận ra những lỗi lầm, biết học hỏi để tự hoàn thiện bản thân, để trưởng thành: “rèn được tấm lòng chín chắn thật đáng làm trai”.

Câu 6. Kẻ bảng và điền các từ vào ô phù hợp.

TỪ ĐƠN

TỪ PHỨC

TỪ GHÉP

TỪ LÁY

Mẹ, mừng, khóc, cười, chuyện

Mạnh khoẻ, hàng xóm, may rủi

Khốn khổ, thử thách

Câu 7. Giải thích nghĩa các từ:

a. Trứng nước: ở thời kỳ mới sinh ra chưa được bao lâu, đang còn non nớt, cần được chăm sóc, bảo vệ.

b. Tu tỉnh: nhận ra lỗi lầm của bản thân và tự sửa chữa.

Phần II: VIẾT (3 điểm)

– Bài văn phải đảm bảo bố cục 3 phần: Mở bài, than bài, kết bài. 

– Em có thể viết bài văn theo các ý:

+ Thời gian, không gian xảy ra câu chuyện: buổi sáng sớm đầu mùa hạ, trong bếp.

+ Các nhân vật trong câu chuyện: nhân vật “tôi” – người kể chuyện, Miu Xám, chim chào mào má đỏ.

+ Hệ thống sự việc trong câu chuyện:

++ Sự việc 1: Nhân vật “tôi” bị đánh thức bởi tiếng “Meo! Meo!” của Miu Xám và vội chạy xuống bếp thì thấy Miu Xám tha về một chú chim.

++ Sự việc 2: “Tôi” giải cứu cho chú chim. Chú chim nằm lả ra, không cựa quậy khiến “tôi” rất buồn và nghĩ là chú chim đã chết.

++ Sự việc 3: Chú chim chào mào giả chết bay vút qua ô cửa sổ. Cảm xúc của “tôi” khi sự việc xảy ra: thương chú chim khi tưởng chú đã chết; kinh ngạc, sung sướng khi chú chim bay vút qua ô cửa thoát thân.

+ Kết thúc câu chuyện: Mỗi khi nghe tiếng chim, nhân vật “tôi” lại mong được gặp lại chú chim chào mào má đỏ thông minh, can đảm. “Tôi” cũng đeo vào cổ Miu Xám một cái vòng có gắn ba quả chuông nhỏ xíu để không chú chim nào bị trở thành con mồi của nó nữa.

+ Cảm xúc của “tôi” khi kể lại câu chuyện: vui sướng, chờ mong.

Phần III. NÓI VÀ NGHE (3 điểm)

– Thực hành nói theo các bước: trước khi nói, trình bày bài nói, sau khi nói.

– Em có thể trình bày trước người thân hoặc nhóm bạn để nhận được các góp ý; từ đó hoàn thiện bài trình bày của mình.

* Ví dụ bài nói mẫu: 

          Chắc chắn trong số chúng ta ai cũng đã từng trải qua rất nhiều những trải nghiệm. Lần trải nghiệm đáng nhớ mà cũng mang đến cho em nhiều cảm xúc nhất chính là lần chúng em được tham gia khóa học ngoại khóa hè 3 ngày ở một vùng quê vô cùng yên bình.

           Em vẫn còn nhớ như in những kỉ niệm của 3 ngày ấy. Em đã vô cùng háo hức, mong từng ngày một để tới ngày chuyến đi được thực hiện. Em đã về quê nhiều lần nhưng cảm xúc lần này rất khác. Em sẽ phải tự lo cho bản thân mình mà không có bố mẹ ở bên cạnh. Đi cùng em trong lần này còn có Vân, người bạn thân thiết nhất của em.

         Ngồi trên ô tô, chúng em hát vang lên bài hát yêu thích của mình, không khí trên xe nhộn nhịp vô cùng. Đường đi hai bên ngập tràn những cánh đồng lúa vàng óng, dưới ánh mặt trời chói chang, màu vàng càng thêm rực rỡ, óng ả. Trên triền đê còn có từng đàn trâu, đàn bò thung thăng gặm cỏ. Lũy tre làng thì đung đưa, rì rào trong gió. Không khí thật sự trong lành, yên bình vô cùng.

           Các cô giáo trong đoàn đi hướng dẫn chúng em rất chu đáo cách sắp xếp đồ đạc để chuẩn bị cho những trải nghiệm thú vị trong 3 ngày ở quê. Các bạn ở quê chào đón chúng em rất nhiệt tình. Bạn nào cũng hiền, cũng đáng yêu mà bạo lắm. Nhìn các bạn trèo tót lên cây hái quả ổi, quả sấu mà cứ nhanh thoăn thoắt như con sóc nhỏ vậy. Chúng em được ra đồng xem các bác nông dân làm ruộng. Em còn được lội thử xuống ruộng nữa, cảm giác thật lạ, em thấy mình như sắp biến thành người nông dân thực thụ ấy. Buổi chiều chúng em được chạy thả diều trên những triền đê xanh cỏ, hun hút gió.

           Ba ngày trôi qua thật nhanh, lúc về chúng em có tặng lại các bạn ở quê mấy món quà mà chúng em tự chuẩn bị từ trước. Lưu luyến lắm, chúng em chẳng muốn rời đi và còn hẹn năm sau sẽ quay lại.

          Chuyến đi thật sự mang đến cho em rất nhiều cảm xúc. Em chỉ ước năm nào cũng sẽ có một chuyến đi như thế này để bản thân có thêm nhiều tích lũy mới cho bản thân, có thêm nhiều cơ hội kết bạn mới.

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 32 thi Học kì 1

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Bài thơ Mây và sóng viết theo thể thơ

A. năm chữ

B. bảy chữ

C. tự do

D. lục bát

Câu 2. Hai bài thơ Chuyện cổ tích về loài người và Mây và sóng có những điểm gì khác nhau? 

A. Mây và sóng có câu thơ kéo dài, không bị hạn chế về số tiếng trong mỗi câu thơ, trong khi Chuyện cổ tích về loài người mỗi câu thơ có 5 tiếng.

B. Mây và sóng có yếu tố miêu tả, còn Chuyện cổ tích về loài người không có. 

C. Mây và sóng có cả lời thoại của nhân vật, còn Chuyện cổ tích về loài người không có.

D. Chuyện cổ tích về loài người có các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá, điệp ngữ, còn Mây và sóng không có. 

Câu 3. Những dấu hiệu nào cho thấy bài thơ Mây và sóng được viết từ điểm nhìn của một em bé? 

A. Nội dung bài thơ là nói về tình cảm mẹ con. 

B. Các từ ngữ xưng hô trong bài thơ (mẹ, con, tôi, bạn, em). 

C. Các nhân vật mây và sóng được nhân hoá để trò chuyện với “con”.

D. Giọng thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ. 

Câu 4. Những biện pháp tu từ nào được sử dụng trong bài Mây và sóng?

A. Điệp ngữ 

B. Điệp cấu trúc 

C. Ẩn dụ 

D. So sánh 

E. Nhân hoá 

F. Đảo ngữ

Câu 5. Trò chơi mà mây và sóng rủ em bé chơi có gì hấp dẫn? Chúng cho thấy đặc điểm gì của trẻ em? 

Câu 6. Lời từ chối của em bé với mây và sóng có ý nghĩa gì? 

Câu 7. Tại sao em bé khẳng định các trò chơi với mẹ là “trò chơi thú vị hơn”, “trò chơi hay hơn” so với những lời rủ rong chơi của mây và sóng?

Câu 8. Em bé đã chơi hai trò chơi tưởng tượng, trong đó em bé và mẹ đều “đóng những vai” khác nhau. Theo em, tại sao tác giả lại để “con là mây”, “con là sóng” còn “mẹ là trăng”, “mẹ là bến bờ”? Hãy ghi lại một số đặc điểm của máy, sóng, trắng, bờ bến để thấy rõ hơn sự tinh tế và tình cảm, cảm xúc được tác giả thể hiện trong bài thơ.

Câu 9. Hãy ghi lại các động từ, cụm động từ được dung để kể về mây, song, mẹ, con trong bài thơ và nhận xét về tác dụng của chúng. 

Câu 10. Trong ca dao Việt Nam, có nhiều câu nói về tình cảm, công ơn của cha mẹ với con cái. Em hãy tìm và ghi lại ít nhất 3 câu ca dao trong số đó. 

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ có yếu tố tự sự và miêu tả.  

ĐÁP ÁN

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. C. tự do

Câu 2. 

A. Mây và sóng có câu thơ kéo dài, không bị hạn chế về số tiếng trong mỗi câu thơ, trong khi Chuyện cổ tích về loài người mỗi câu thơ có 5 tiếng.

C. Mây và sóng có cả lời thoại của nhân vật, còn Chuyện cổ tích về loài người không có.

Câu 3. 

B. Các từ ngữ xưng hô trong bài thơ (mẹ, con, tôi, bạn, em). 

C. Các nhân vật mây và sóng được nhân hoá để trò chuyện với “con”.

Câu 4. 

A. Điệp ngữ 

B. Điệp cấu trúc 

D. So sánh 

E. Nhân hoá 

Câu 5. Trò chơi mà mây và sóng rủ em bé chơi hấp dẫn vì nó hứa hẹn đưa em đến những miền đất mới lạ, kì thú mà em chưa bao giờ biết đến – những vùng đất xa xôi, cao vút, mang màu sắc thần kì. Điều này cho thấy một trong những đặc điểm của trẻ em, đó là: luôn tò mò, muốn khám phá những điều chưa biết, hơn nữa, các em có trí tưởng tượng rất bay bổng, luôn có niềm tin vào những thế giới thần tiên, dễ bị hấp dẫn trước những thứ mới lạ, diệu kì.

Câu 6. Lời từ chối của em bé với mây và sóng cho thấy: mặc dù sự hấp dẫn của thế giới diệu kì, lạ lẫm kia là rất lớn, nhưng trong tâm hồn trẻ thơ, không có gì và không ai có thể thay thế, đánh đổi hoặc vượt lên trên vị trí của người mẹ. Sự gần gũi, thương yêu của mẹ luôn là miền đất an toàn nhất của trẻ. Điều đó cho thấy tình cảm mãnh liệt của em bé dành cho mẹ, chấp nhận bỏ qua rất nhiều điều hấp dẫn khác cũng nhất định không rời xa mẹ.

Câu 7. Vì: trong trò chơi đó, em được ở cùng mẹ, “được ôm lấy mẹ”, “lăn vào lòng mẹ”, được chia sẻ và tận hưởng mọi phút giây trong vòng tay mẹ. Cũng trong các trò chơi đó với mẹ, em được làm mây, làm sóng.

Câu 8. – Mây: sự ôm ấp, rộng lớn, êm ái, bay bổng, thanh khiết, tính động.

– Sóng: tinh nghịch, ồn ào, tính động. 

– Trăng: mát dịu, êm đềm, nhẹ nhàng, trong sáng, đẹp đẽ, tĩnh lặng. 

– Bến bờ: tĩnh lặng, yên bình, an toàn, tính tĩnh. 

Con là mây, Con là sóng: Vì mây và sóng đều màu trắng và có đặc tính di chuyển động, giống như con trẻ vừa trong trắng, ngây thơ lại hiếu động, tinh nghịch. Mẹ là trăng, là bến bờ: vì trăng và bến bờ đều có tính chất tĩnh lặng, êm đềm, phù hợp với hình tượng người mẹ hiền hoà, dịu dàng bên con. 

Câu 9. 

– Mây: chơi đùa, mỉm cười rồi bay đi. .

– Sóng: hát, ngao du khắp nơi, mỉm cười, nhảy múa lướt qua. 

– Mẹ: đang đợi ở nhà, luôn muốn mình ở nhà. 

– Con: ôm lấy mẹ, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ. 

Câu 10. 

– Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ, kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

– Cây khô chưa dễ mọc chồi,

Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta.

Non xanh bao tuổi mà già,

Bởi vì sương tuyết hoá ra bạc đầu.

– Mẹ già ở tấm lều tranh,

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Thực hành viết theo các bước

1. Trước khi viết

a. Lựa chọn bài thơChuyện cổ tích về loài người 

b. Tìm ý 

– Bài thơ gợi lên câu chuyện về loài người ra đời.

– Các chi tiết miêu tả, tự sự nổi bật:

+ Trái đất khi em bé mới sinh ra;

+ Trái đất thay đổi khi trẻ em ra đời;

+ Mẹ, bà, bố, trường lớp ra đời…

– Các chi tiết ấy sống động, thú vị nhờ các biện pháp tu từ.

– Qua đó, tác giả nhắn nhủ tới mọi người hãy yêu thương nhau, trẻ con là tương lai nền cần được chăm sóc, dậy dỗ nuôi dưỡng để trưởng thành, còn trẻ thơ phải trân trọng, yêu thương những người thân.

c. Lập dàn ý

– Mở đoạn: 

+ Xuân Quỳnh là nhà thơ Hà Nội, khi viết về thiếu nhi thì tràn đầy yêu thương.

+ Bài thơ Chuyện cổ tích về loài người đã giải thích về nguồn gốc loài người mang màu sắc cổ tích.

– Thân đoạn:

+ Sự trần trụi, tối tăm bao trùm lấy toàn bộ trái đất khi trẻ em mới sinh ra.

+ Kể từ đó, mặt trời, cây cối, chim muông,… ra đời.

+ Hình sắc, âm thanh rực rỡ để em bé cảm nhận về cuộc đời.

+ Mọi người sinh ra để chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ.

+ Biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp ngữ, so sánh,… được tác giả sử dụng tối đa để mang đến những cảm nhận vô cùng trẻ thơ.

+ Tuy là kể thế nhưng bài thơ vẫn mang đến cảm xúc, lời nhắn nhủ từ tận đáy lòng tác giả là mọi người phải yêu thương nhau.

– Kết thúc:

+ Lí giải nguồn gốc ra đời của loài người dưới góc nhìn hoang đường, kì ảo.

+ Ta thấy rõ dược tầm quan trọng của tình yêu thương trong gia đình.

2. Viết bài

Xuân Quỳnh là nhà thơ Hà Nội, khi bà viết về thiếu nhi thì tràn đầy yêu thương. Bài thơ Chuyện cổ tích về loài người là một trong những tác phẩm xuất sắc giải thích về nguồn gốc loài người mang màu sắc cổ tích. Mở đầu bài thơ là sự trần trụi, tối tăm bao trùm lấy toàn bộ trái đất khi trẻ em mới sinh ra. Và sau đó, mặt trời, cây cối, chim muông,… ra đời đem đến một khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Đó là những hình sắc rực rỡ, âm thanh rộn ràng để em bé cảm nhận về cuộc đời, để trẻ em lớn lên. Mẹ là yêu thương qua lời ru, bà là những bài học qua những câu chuyện cổ. Còn bố đem lại cho bé những hiểu biết sâu rộng và nhà trường đem tới những bài học. Xuân Quỳnh sử dụng những biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp ngữ, so sánh,… để mang đến những cảm nhận vô cùng trẻ thơ. Tuy là kể thế nhưng bài thơ vẫn mang đến cảm xúc, lời nhắn nhủ từ tận đáy lòng tác giả là mọi người phải yêu thương nhau. Tóm lại, qua cách lí giải nguồn gốc dưới góc nhìn hoang đường, kì ảo, ta thấy rõ dược tầm quan trọng của tình yêu thương trong gia đình.

3. Chỉnh sửa bài viết: Đọc và chỉnh sửa lại các lỗi về diễn đạt, chính tả,…. 

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 33 thi Học kì 1 – Kết nối tri thức

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (2,0 điểm).

Đọc đoạn trích dưới đây và khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng cho mỗi câu hỏi:

Ngày xưa ta đi học 

Mười tuổi thơ nghe gió thổi mùa thu 

Mắt ngẩng lên trông bản đồ rực rỡ 

Như đồng hoa bỗng gặp một đêm mơ. 

Bản đồ mới tường vôi cũng mới 

Thầy giáo lớn sao, thước bảng cũng lớn sao

Gậy thần tiên và cánh tay đạo sĩ 

Đưa ta đi sông núi tuyệt vời. 

Tim đập mạnh hồn ngây không sao hiểu 

Mê Kông sông dài hơn hai ngàn cây số mông mênh.

(Cửu Long Giang ta ơi, Ngữ văn 6, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2021)

Câu 1. Bài thơ Cửu Long Giang ta ơi do ai sáng tác?

A. Nguyên Hồng 

B. Nguyễn Tuân

C. Xuân Quỳnh 

D. Lâm Thị Mỹ Dạ 

Câu 2. Biện pháp tu từ nào đã được tác giả sử dụng trong các câu thơ: 

Mắt ngẩng lên trông bản đồ rực rỡ 

Như đồng hoa bỗng gặp một đêm mơ. 

A. So sánh 

B. Ẩn dụ

C. Nhân hoá 

D. Hoán dụ 

Câu 3. Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên là gì? 

A. Tự sự 

B. Biểu cảm 

C. Miêu tả

D. Nghị luận 

Câu 4. Bài thơ Cửu Long Giang ta ơi có nhắc đến những địa danh nào ở Việt Nam? 

A. Mê Kông, Cô Tô, Hang Én.

B. Thác Khôn, Trường Sơn, Hang Én 

C. Cô Tô, Trường Sơn, Long Châu 

D. Trường Sơn, Hà Tiên, Cà Mau 

PHẦN II. VĂN HỌC VÀ CUỘC SỐNG (8,0 điểm) 

Câu 1 (1,0 điểm). Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu thơ

“Gậy thần tiên và cánh tay đạo sĩ/ Đưa ta đi sông núi tuyệt vời”. 

Câu 2 (3,0 điểm). Bài thơ Cửu Long Giang ta ơi như một bức tranh rực rỡ với các hình ảnh sinh động, giàu sức gợi. Hình ảnh nào đã in đậm trong tâm trí em? Hãy trình bày cảm nhận về hình ảnh đó bằng một đoạn văn (7 – 9 câu). Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất một từ láy (gạch dưới từ láy đó). 

Câu 3 (4,0 điểm). Câu thơ “Ngày xưa ta đi học” mở đầu bài thơ đã gợi em nhớ về những gì trong ngày đầu tiên đi học? Hãy sử dụng kết hợp phương thu tự sự và miêu tả để ghi lại phần kí ức tuyệt vời đó bằng một bài văn (khoảng 1 trang giấy thi).

ĐÁP ÁN

Phần I (2,0 điểm). 

Mỗi câu trả lời đúng cho 0,5 điểm 

Câu 1. A 

Câu 2. A. 

Câu 3. B 

Câu 4. D. 

Phần II (8,0 điểm). 

Câu 1 (1,0 điểm). Học sinh vận dụng năng lực văn học để làm rõ tác dụng của biện pháp nghệ thuật trong câu thơ 

– Nghệ thuật: Ẩn dụ: 

+ gậy thần tiên: cây thước của thầy giáo

+ đạo sĩ: người thầy 

– Tác dụng: Thể hiện cách nhìn mơ mộng, ngưỡng mộ của cậu học trò đối với thầy giáo. Thầy mở ra chân trời mới, đưa học trò đi khám phá khắp mọi miền Tổ quốc, khám phá tri thức, nâng cánh ước mơ. 

Câu 2 (3,0 điểm). Học sinh vận dụng năng lực văn học để trình bày cảm nhận về hình ảnh trong bài thơ để lại ấn tượng nhất.

– Hình thức: Đoạn văn (5 – 7 câu), có sử dụng từ láy và gạch dưới từ láy. 

– Nội dung: Học sinh lựa chọn hình ảnh và nêu cảm nhận, ý nghĩa của hình ảnh đó (nghệ thuật, nghĩa thực, nghĩa biểu tượng). 

Câu 3 (4,0 điểm). Học sinh sử dụng năng lực văn học để phát triển kĩ năng viết.

Cần đảm bảo những yêu cầu sau: 

* Hình thức: 

– Bài văn (một trang giấy). 

– Trình bày khoa học sạch đẹp, không mắc lỗi chính tả. 

* Nội dung: 

– Mở bài: Giới thiệu chung về ngày đầu tiên đi học. 

– Thân bài: Kể tả chi tiết về ngày đầu đi học. 

– Kết bài: Cảm xúc, suy nghĩ về ngày đi học đó.

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 34 thi Học kì 1 – Kết nối tri thức

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Phần I: ĐỌC HIỂU VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (4 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các bài tập:

Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo.

Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó.

Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến gội ướt đẫm tóc mẹ và tắm mát cho chúng tôi. Nắng làm bỏng rát cả làn da và mái tóc của mẹ.

Khi thu về, trái dẻ khô đi, lớp áo gai đã chuyển sang màu vàng cháy. Hạt dẻ căng tròn làm nứt bung cả tấm áo gai xù đã quá chật chội.

Tôi vẫn nằm im trong lớp áo gai xù, nép vào một cánh tay của mẹ. Tôi chẳng muốn chui khỏi tấm áo ấm áp, an toàn đó chút nào.

Nhưng rồi những ngày thu êm ả cũng trôi qua.

Gió lạnh buốt bắt đầu thổi ù ù qua khu rừng. Gió vặn vẹo những cánh tay dẻo dai của mẹ. Gió lay giật tấm thân vững chãi của mẹ. Nhưng mẹ vẫn bền gan đứng trên sườn núi cheo leo.

Khi mùa đông đến, tôi cứ thu mình mãi trong tấm áo gai xù ấm áp của họ nhà dẻ gai và nép mãi vào tay mẹ, tóc mẹ. Tôi sợ phải xa mẹ, sợ phải tự sống một mình. Tôi sợ những gì lạ lẫm trong rừng già. Nhưng tôi nghe tiếng mẹ thì thầm:

– Bé Út của mẹ, con nhỏ nhất nhà so với các anh chị nhưng con cũng đã lớn rồi đấy. Con là một bé dẻ gai rất khoẻ mạnh. Hãy dũng cảm lên nào, con sẽ bay theo gió và sẽ trở thành một cây dẻ cường tráng trong cánh rừng này nhé!

Tôi cố quẫy mình… Tấm áo gai dày và ấm bất chợt bung ra. Và tôi nhìn rõ cả cánh rừng già, cả sườn núi cao, cả bầu trời mây gió lồng lộng ào ạt trôi trên đầu mẹ. Hoá ra tôi là trái dẻ cuối cùng đang nép trên cánh tay vươn cao nhất của mẹ. Mẹ đưa tay theo chiều gió và thì thầm với riêng tôi: “Tạm biệt con yêu quý, hạt dẻ bé bỏng nhất của mẹ. Dù thế nào con cũng sẽ lớn lên, hãy dũng cảm và đón nhận cuộc sống mới nhé!“ 

Tôi bỗng thấy mình bay nhẹ theo làn gió, tung mình vào khoảng không bao la rồi rơi êm xuống thảm lá ấm sực của rừng già… “Tạm biệt mẹ! Con yêu mẹ!”- tôi gọi với theo gió trước khi chìm vào giấc ngủ đông ấm áp. Và tôi mơ…

(Theo Phương Thanh Trang, trích Câu chuyện của hạt dẻ gai, tạp chí Văn học và tuổi trẻ, số 12 (465), 2020)

Câu 1. Chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi sau:

1Câu chuyện được kể bằng lời của nhân vật nào?

A. Mẹ Dẻ Gai

B. Một cây dẻ trong rừng già

C. Một nhân vật trong câu chuyện

D. Nhân vật “tôi” – đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai

2Từ “chúng tôi” trong câu chuyện được dùng để chỉ những nhân vật nào?

A. Mẹ, hạt dẻ gai và các anh chị em

B. Nhân vật “tôi” và các anh chị em

C. Nhân vật “tôi” và các bạn trong rừng già

D. Những hạt dẻ gai trong rừng già

3Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu: “Và tôi nhìn rõ cả cánh rừng già, cả sườn núi cao, cả bầu trời mây gió lồng lộng ào ạt trôi trên đầu mẹ.”?

A. Ẩn dụ

B. Điệp ngữ

C. Hoán dụ

D. So sánh

4Vì sao khi mùa đông đến, “tôi” cứ mãi thu mình trong tấm áo gai xù ấm áp?

A. Vì “tôi” nhỏ nhất nhà và chưa đủ lớn.

B. Vì “tôi” rất thích tấm áo gai xù ấm áp.

C. Vì “tôi” sợ gió lạnh, sợ mùa đông đến.

D. Vì “tôi” sợ xa mẹ, sợ tự lập và những gì lạ lẫm.

Câu 2. Trả lời các câu hỏi sau:

1. Nhân vật“tôi” thể hiện được những đặc điểm gì của nhân vật trong truyện đồng thoại?

2. Hãy tìm ba từ mà em cho là phù hợp để nêu bật đặc điểm của nhân vật “tôi”.

3. Nêu bài học cuộc sống mà em có thể rút ra từ câu chuyện của hạt dẻ gai trong đoạn trích.

Phần II: VIẾT (3 điểm)

Câu 1. Em hãy tưởng tượng những điều hạt dẻ gai gặp trong giấc mơ và sau giấc ngủ đông ấm áp. Hãy giúp nhân vật ấy kể tiếp câu chuyện của mình trong rừng già theo cách của em.

Câu 2. Những trải nghiệm của nhân vật “tôi” trong đoạn trích có thể gợi liên tưởng đến điều gì trong cuộc sống của em? Viết đoạn văn chia sẻ điều đó.

Phần III. NÓI VÀ NGHE (3 điểm)

Câu 1. Trong vai hạt dẻ gai, em hãy tưởng tượng và kể lại những điều nhân vật gặp trong giấc mơ và sau giấc ngủ đông ấm áp.

Câu 2. Câu chuyện của hạt dẻ gai có thể gợi liên tưởng đến những trải nghiệm của em. Hãy chia sẻ những trải nghiệm đó với mọi người

ĐÁP ÁN

Phần I: ĐỌC HIỂU VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (4 điểm) 

Câu 1. Chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi sau:

1. D 

2. B 

3. B

4. D

Câu 2. Trả lời các câu hỏi sau:

1. Nhân vật “tôi” thể hiện được những đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại: Nhân vật “tôi” được nhân cách hóa với những suy nghĩ, đặc điểm, tính cách giống như con người.

2. Theo em 3 từ có thể phù hợp với đặc điểm của nhân vật “tôi” là: sợ sệt, dũng cảm, đáng yêu.

3. Bài học cuộc sống: Dũng cảm đối mặt với những thử thách trong cuộc sống, chúng ta sẽ nhận về những bài học bổ ích cho bản thân, những điều tốt đẹp.

Phần II: VIẾT (3 điểm) 

Câu 1. 

           Khi rơi xuống tấm thảm lá trong rừng già, cảm giác êm dịu, trong trẻo khiến tôi khoan khoái lạ thường. Mùa đông đến, cả khu rừng bỗng chốc chìm vào bầu không gian lạnh lẽo. Tấm thảm lá chẳng thể giúp tôi cảm thấy ấm áp như trong vòng tay vạm vỡ của mẹ Dẻ Gai, nhất là khi tấm áo gai xù xì đã chẳng còn bên mình. Đúng lúc này thì tôi phát hiện ra một con côn trùng kì lạ gì đó vừa đi vừa dí sát mũi xuống đất, giống như đang tìm kiếm thức ăn vậy. Tôi vội vã thu mình thật kĩ lại trong những chiếc lá khô, dặn mình không sợ hãi, nín thở chờ con vật đó đi qua. Cứ thế, những ngày tháng sau đó, tôi cũng học được cách sinh tồn và tự bảo vệ mình trước những nguy hiểm dưới mặt đất này. Rồi mùa xuân cũng đến, những tia nắng ấm áp len lỏi qua từng tán cây rọi xuống mặt đất. Tôi vươn mình đón những tia nắng ấm áp, những hạt mưa mát lành. Từ lúc nào, tôi đã trở thành một cây dẻ gai cường tráng đúng như ước mong của mẹ rồi. Tự bản thân tôi cũng cảm thấy thật vui vẻ, hạnh phúc khi chào đón cuộc đời này với một hình hài mới, khỏe mạnh, giúp ích cho đời.

Câu 2. 

            Những trải nghiệm của nhân vật “tôi” trong đoạn trích đã khiến em liên tưởng đến lần trải nghiệm khó quên đó của chính bản thân mình. Ngày hôm đó trên đường đi học về, qua ngõ vắng em đã bắt gặp cảnh một bà cụ bị một nhóm thanh niên chặn đường xin tiền. Bà cụ đưa ánh mắt ra hiệu em đừng lại gần kẻo gặp nguy hiểm. Một trong số những thanh niên trong nhóm còn lao nhanh về phía em, túm lấy cặp sách sau lưng đuổi em đi. Em biết lúc này mà bỏ đi thật thì bà sẽ gặp nguy hiểm mất. Em quay lưng chạy nhanh khỏi ngõ rồi lập tức hô hoán thật to để gọi người lớn xung quanh chạy đến giúp bà cụ. Em còn cố tình hét to hơn: “Công an đến!” làm nhóm thanh niên trấn lột kia sợ hãi bỏ chạy toán loạn. Thật ra chẳng có chú công an nào cả, chỉ có hai bác thanh niên chạy đến mà thôi. Mọi người khen em nhanh trí, dũng cảm mới cứu được bà cụ khỏi cảnh nguy nan. Bà cụ cảm ơn em, còn em, em chỉ cảm thấy vui mừng vì đã giúp được bà. Về nhà, em có kể lại chuyện này cho bố mẹ nghe, cả nhà ai cũng khen em dũng cảm, thông minh. Đây đúng là lần trải nghiệm khó quên của em vì em chưa từng rơi vào hoàn cảnh như thế bao giờ. Dù biết là nguy hiểm, nhưng nếu được chọn lựa, em sẽ vẫn hành động như vậy. Giúp đỡ được mọi người cũng chính là giúp bản thân mình có thêm nhiều bài học bổ ích trong cuộc sống.

Phần III. NÓI VÀ NGHE (3 điểm) 

Câu 1. 

Sử dụng bài văn đã làm ở câu 1 phần Viết và chuyển thành ngôn ngữ nói, sử dụng điệu bộ, cử chỉ, giọng nói phù hợp để kể câu chuyện. 

Câu 2. 

Sử dụng đoạn văn đã làm ở câu 2 phần Viết và chuyển thành ngôn ngữ nói, sử dụng điệu bộ, cử chỉ, giọng nói phù hợp để kể câu chuyện. 

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 35 thi Học kì 1

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Phần I: ĐỌC HIỂU VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (4 điểm) 

Đọc bài thơ Cái cầu của nhà thơ Phạm Tiến Duật và trả lời các câu hỏi:

Cha gửi cho con chiếc ảnh cái cầu

Cha vừa bắc xong qua dòng sông sâu;

Xe lửa sắp qua, thư cha nói thế,

Con cho mẹ xem – cho xem hơi lâu.

Những cái cầu ơi, yêu sao yêu ghê,

Nhện qua chum nước bắc cầu tơ nhỏ,

Con sáo sang sông bắc cầu ngọn gió,

Con kiến qua ngòi bắc câu lá tre.

Yêu cái cầu vồng khi trời nổi gió

Bắc giữa trời cao, vệt xanh vệt đỏ,

Dưới gầm câu vồng nhà máy mới xây

Trời sắp mưa khói trắng hơn mây.

Yêu cái cầu tre bắc qua sông máng

Mùa gặt con đi đón mẹ bên câu;

Lúa hợp tác từng đoàn nặng gánh

Qua câu tre, vàng cả dòng sâu

Yêu cái cầu treo lối sang bà ngoại

Như võng trên sông ru người qua lại,

Dưới cầu nhiều thuyền chở đá chở vôi;

Thuyền buồm đi ngược, thuyền thoi đi xuôi

Yêu hơn, cả cái cầu ao mẹ thường đãi đỗ

Là cái cầu này ảnh chụp xa xa;

Mẹ bảo: cầu Hàm Rồng sông Mã

Con cứ gọi: cái cầu của cha.

(Phạm Tiến Duật, Vầng trăng quầng lửa – Thơ, NXB Văn học, Hà Nội, 1970, tr. 5 – 6)

Câu 1. Bài thơ kể về một câu chuyện. Đó là câu chuyện gì và người kể là ai?

Câu 2. Từ“cái cầu của cha” bạn nhỏ liên tưởng đến nhiều cây cầu khác. Hãy liệt kê và nêu hình dung của em về những cây cầu đó.

Câu 3. Biện pháp tu từ nào được sử dụng để biểu đạt tình cảm của bạn nhỏ dành cho những cây câu? Em hãy chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 4. Theo em, bạn nhỏ yêu nhất là cây cầu nào? Vì sao?

Câu 5. Tình cảm của bạn nhỏ đối với những cây cầu thể hiện điều gì?

Câu 6. Hình ảnh người cha và người mẹ xuất hiện trong bài thơ gợi cho em suy nghĩ

và cảm xúc gì?

Phần II: VIẾT (3 điểm)

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 10 câu) ghi lại cảm xúc của em sau khi đọc bài thơ Cái cầu của Phạm Tiến Duật.

Phần III. NÓI VÀ NGHE (3 điểm)

Trình bày suy nghĩ của em về tình cảm gia đình sau khi đọc bài thơ Cái cầu của Phạm Tiến Duật.

ĐÁP ÁN

Phần I: ĐỌC HIỂU VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (4 điểm) 

Câu 1. Đọc bài thơ, ta như được nghe một câu chuyện. Người kể xưng “con”, kể cho mẹ nghe chuyện về những cây cầu sau khi nhận “thư cha” kèm theo bức ảnh chụp cây cầu mà người cha mới xây xong. Cây cầu của cha gợi lên trong người con hình ảnh về những cây cầu gắn với bao kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương.

Câu 2. Từ “cái cầu của cha”, bạn nhỏ liên tưởng đến nhiều cây cầu khác như:

– Cầu tơ nhỏ con nhện bắc để qua chum nước.

– Cầu ngọn gió con sáo bắc để sang sông.

– Cầu lá tre con kiến bắc để qua ngòi.

– Cầu vồng bắc ngang trời khi trời nổi gió.

– Cái cầu tre bắc qua sông máng.

– Cái cầu treo lối sang bà ngoại.

– Cái cầu ao mẹ thường đãi đỗ.

Những cây cầu nối đôi bờ xa cách, giúp những con người, những miền quê gần gũi nhau hơn. Những cây cầu cũng tô điểm thêm cho vẻ đẹp của quê hương, đất nước. Với bạn nhỏ, những cây cầu nhỏ bé cũng là nơi ghi dấu bao kỉ niệm thân thương về gia đình, người thân.

Câu 3. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ, lặp đi lặp lại từ yêu (6 lần). Biện pháp tu từ này đã nhấn mạnh tình yêu tha thiết của bạn nhỏ dành cho những cây cầu.

Câu 4. Trong lời kể của bạn nhỏ, cây cầu nào cũng có vẻ độc đáo, đáng yêu riêng. Nhưng bạn nhỏ yêu nhất là cây cầu trong bức ảnh của cha, là “cái cầu của cha”. Đối với mẹ, đó là cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã – cây cầu đóng vai trò vô cùng quan trọng: chi viện cho miền Nam kháng chiến. Chiếc cầu là chứng nhân của biết bao chiến công anh hùng của quân và dân tỉnh Thanh Hoá nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung trong những năm tháng chiến tranh. Đối với  bạn nhỏ thì đó là cây cầu của cha, do chính cha bắc cho xe lửa chạy qua sông sâu. Điều đó khiến cây cầu vốn xa lạ trở nên gần gũi và thân thương. Nói tình yêu quê hương, đất nước bắt nguồn từ tình yêu đối với những điều bình dị nhất là vì vậy.

Câu 5. Hình ảnh những cây cầu giản dị, thân thương, mộc mạc, chân chất gợi nhắc những kỉ niệm chứa đựng tình cảm của bạn nhỏ đối với cha mẹ, gia đình, quê hương, đất nước. Vì vậy, tình cảm của bạn nhỏ đối với những cây cầu cũng thể hiện tình yêu, niềm tự hào về cha mẹ, gia đình, quê hương, đất nước.

Câu 6

– Hình ảnh người cha xuất hiện trong bài thơ là một người đi xây cầu, góp phần xây dựng Tổ quốc. Vì tính chất công việc, vì tinh thần trách nhiệm với công cuộc kiến thiết đất nước, người cha thường xuyên phải xa nhà. Nhưng ông luôn dành tình cảm cho gia đình. Mỗi lần hoàn thành công việc, người cha không quên chia sẻ niềm vui, niềm tự hào với những người thân trong gia đình qua những bức ảnh, những lá thư.

– Người mẹ là một nông dân, sống ở nông thôn, nhiệt tình tham gia lao động sản xuất, chẳng quản các công việc đồng áng nặng nhọc của hợp tác xã. Đó cũng là một người mẹ giàu tình yêu thương, luôn chăm lo cho gia đình.

Phần II: VIẾT (3 điểm)

– Về hình thức: viết đoạn văn khoảng 7-10 câu. 

– Về nội dung: nêu được cảm xúc về nội dung và một số yếu tố hình thức nghệ thuật nổi bật của bài thơ Cái cầu (tình cảm gia đình gắn với tình yêu quê hương, đất nước; cách sử dụng yếu tố tự sự và miêu tả, biện pháp tu từ điệp ngữ….).

* Ví dụ đoạn văn mẫu: 

            Đọc bài thơ “Cái cầu” của nhà thơ Phạm Tiến Duật mà em ngỡ em đang được nghe câu chuyện sinh động mà người con kể cho mẹ về những cây cầu sau khi nhận “thư cha”. Cây cầu của cha gợi lên trong người con hình ảnh về những cây cầu gắn với bao kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ, lặp đi lặp lại từ yêu tới 6 lần để nhấn mạnh tình yêu tha thiết của bạn nhỏ dành cho những cây cầu. Những cây cầu không chỉ tô điểm thêm cho vẻ đẹp của quê hương, đất nước mà còn là nơi ghi dấu bao kỉ niệm thân thương về gia đình, người thân. Hình ảnh người cha xuất hiện trong bài thơ là một người đi xây cầu, góp phần xây dựng Tổ quốc. Người mẹ là một nông dân, sống ở nông thôn, nhiệt tình tham gia lao động sản xuất, chẳng quản các công việc đồng áng nặng nhọc của hợp tác xã, luôn yêu thương, chăm sóc gia đình. Hình ảnh những cây cầu giản dị, thân thương, mộc mạc, chân chất gợi nhắc những kỉ niệm nhưng cũng là nơi chứa đựng tình cảm của bạn nhỏ đối với cha mẹ, gia đình, quê hương.

Phần III. NÓI VÀ NGHE (3 điểm)

* Em có thể chuẩn bị nội dung bài nói theo gợi ý:

– Nêu rõ suy nghĩ của em về tình cảm gia đình được thể hiện trong bài thơ Cái cầu của Phạm Tiến Duật.

+ Em thấy tình cảm gia đình được thể hiện trong bài thơ như thế nào?

+ Tình cảm của bạn nhỏ đối với cha mẹ và tình cảm của cha mẹ đối với bạn nhỏ thể hiện như thế nào?

+ Em thấy tình cảm đó có gì đặc biệt?

– Trình bày suy nghĩ chung của em về tình cảm gia đình:

+ Vai trò của mỗi cá nhân trong việc xây dựng, bồi đắp tình cảm gia đình;

+ Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với mỗi cá nhân.

– Khái quát được giá trị của tình cảm gia đình cũng như trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc xây dựng tình cảm gia đình; mối quan hệ giữa tình cảm gia đình với tình yêu quê hương, đất nước.

– Trình bày bài nói theo nội dung đã chuẩn bị.

* Ví dụ bài nói mẫu: 

           Đọc bài thơ “Cái cầu” của nhà thơ Phạm Tiến Duật mà em ngỡ em đang được nghe câu chuyện sinh động mà người con kể cho mẹ về những cây cầu sau khi nhận “thư cha”. Cây cầu của cha gợi lên trong người con hình ảnh về những cây cầu gắn với bao kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ, lặp đi lặp lại từ yêu tới 6 lần để nhấn mạnh tình yêu tha thiết của bạn nhỏ dành cho những cây cầu. Những cây cầu không chỉ tô điểm thêm cho vẻ đẹp của quê hương, đất nước mà còn là nơi ghi dấu bao kỉ niệm thân thương về gia đình, người thân. Hình ảnh người cha xuất hiện trong bài thơ là một người đi xây cầu, góp phần xây dựng Tổ quốc. Người mẹ là một nông dân, sống ở nông thôn, nhiệt tình tham gia lao động sản xuất, chẳng quản các công việc đồng áng nặng nhọc của hợp tác xã, luôn yêu thương, chăm sóc gia đình. Hình ảnh những cây cầu giản dị, thân thương, mộc mạc, chân chất gợi nhắc những kỉ niệm nhưng cũng là nơi chứa đựng tình cảm của bạn nhỏ đối với cha mẹ, gia đình, quê hương. Đọc xong bài thơ, em càng thêm trân trọng những vất vả của bố mẹ, càng thêm yêu gia đình, yêu quê hương, đất nước của mình hơn và tự dặn bản thân phải cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để không phụ sự kỳ vọng của bố mẹ.

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 36 thi Học kì 1

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Tôi đến tận gốc chanh chăm chú theo dõi. Từng đợt, từng đợt, bảy tám con một lúc, những chú bọ ngựa bé tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu tinh nghịch có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố trườn ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhàng tọt khỏi ổ trứng, người treo lơ lửng trên một sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió. Mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ một lát, rồi ngọ nguậy, rồi ngó ngoáy; các chú càng cứng càng cựa quậy thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống phía dưới. Cứ như là mẹ các chú đang ở đó, nhẹ nhàng bồng từng chú mà đặt xuống một cái nệm êm vậy.

Chú bọ ngựa con đầu đàn “nhảy dù” trúng một quả chanh non. Chú đứng hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm nhỏ xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ, ngước nhìn từng loạt, từng loạt đàn em mình đang “đồ bộ” xuống hết sức chính xác và mau lẹ. Chú đứng trên quả chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi bọ ngựa, hùng dũng như con sư tử đứng vờn quả cầu…

Đàn bọ ngựa mới nở chạy tíu tít, lập tức dàn quân ra khắp cây chanh, mỗi con mỗi ngả bắt đầu một cuộc sống dũng cảm, tự lập.

(Vũ Tú Nam, Cái trứng bọ ngựa, trích Những tác phẩm chọn lọc dành cho thiếu nhi – Hoa lá trong vườn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr. 29)

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích.

Câu 2. Liệt kê một số chi tiết miêu tả đàn bọ ngựa con và chú bọ ngựa con đầu đàn.

Câu 3. Nhân vật “tôi” đã rất chăm chú và kiên nhẫn khi quan sát những cái trứng bọ ngựa nở thành đàn bọ ngựa con. Em hãy chỉ ra một số chi tiết thể hiện điều đó.

Câu 4. Cách quan sát, miêu tả của nhân vật “tôi” thể hiện tình cảm gì với các chú bọ ngựa con?

Câu 5. Hãy quan sát kĩ một hình ảnh thiên nhiên quanh em (đám mây, bông hoa, giọt sương, cây lá,…) hoặc một con vật nuôi và ghi lại vài điều thú vị mà em nhìn thấy, cảm thấy.

Câu 6. Tìm và nêu tác dụng của từ láy trong đoạn văn sau:

Từng đợt, từng đợt, bảy tám con một lúc, những chú bọ ngựa bé tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu tinh nghịch có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố trườn ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhàng tọt khỏi ổ trứng, người treo lơ lửng trên một sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió.

Câu 7. Tìm một câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong đoạn trích trên và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em 

ĐÁP ÁN

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Người kể chuyện ngôi thứ nhất, xưng “tôi”.

Câu 2.

– Chi tiết miêu tả đàn bọ ngựa con: bé tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu tinh nghịch có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố trườn ra, thoát được cái đầu, cái mình, mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ một lát, rồi ngọ nguậy, rồi ngó ngoáy; các chú càng cứng càng cựa quậy thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống phía dưới.

– Chi tiết miêu tả chú bọ ngựa con đầu đàn: hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm nhỏ xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ.

Câu 3. Các chi tiết miêu tả đàn bọ ngựa con từ khi bắt đầu chui ra khỏi ổ trứng đến khi có thể nhảy xuống và toả đi “bắt đầu một cuộc sống dũng cảm, tự lập” Mỗi “giai đoạn” đều được tái hiện rất tỉ mỉ, chi tiết. Ví dụ: lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố trườn ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhàng tọt khỏi ổ trứng, người treo lơ  lửng trên một sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió…

Câu 4. Cách quan sát chăm chú, kiên nhẫn; cách miêu tả rất chi tiết, sinh động của nhân vật “tôi” thể hiện sự tò mò, thích thú và tình cảm yêu quý dành cho các chú bọ ngựa con.

Câu 5. Quan sát chú mèo em thấy: Chú mèo con có bộ lông màu vàng óng, đôi mắt to tròn, đen láy. Hai chiếc tai lúc nào cũng dựng đứng lên để nghe ngóng xung quanh. Cái đuôi thì ngoe nguẩy liên tục. Chú mèo rất ngoan, chăm chỉ bắt chuột, rất quý người.

Câu 6. Từ láy: tí ti thô lố, nhẹ nhàng, lơ lửng, bay bay.

Việc sử dụng các từ láy giúp miêu tả sinh động hình ảnh những chú bọ ngựa vừa mới nở: nhỏ bé, tinh nghịch, khéo léo.

Câu 7. Câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh: Chú đứng trên quả chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi bọ ngựa, hùng dũng như con sư tử đứng vờn quả cầu.

Hình ảnh bọ ngựa đứng trên quả chanh được so sánh với con sư tử đứng vờn quả cầu. Biện pháp tu từ so sánh đã tô đậm vẻ đẹp khoẻ khoắn, hùng dũng của chú bọ ngựa ngay từ lúc mới sinh ra.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Thực hành viết theo các bước

1. Trước khi viết

a. Lựa chọn đề tài: Chia tay mái trường Tiểu học. 

b. Tìm ý 

– Em nhớ và định kể lại kỉ niệm: Buổi học cuối cùng ở trường tiểu học.

– Câu chuyện cụ thể như sau:

+ Đến lớp thật sớm, quan sát mọi thứ xung quanh.

+ Không khí của lớp học trầm lặng.

+ Cô giáo lần cuối điểm danh mọi người.

– Kỉ niệm ấy sâu sắc, đáng nhớ vì đánh dấu kết thúc 5 năm học ở trường tiểu học, chuyển sang cấp học mới, môi trường mới.

c. Lập dàn ý

– Mở bài: Nêu khái quát về kỉ niệm: Nhớ như in cái ngày cuối cùng tại trường tiểu học của mình, giây phút phải chia xa mọi người.

– Thân bài: Kể chi tiết, cụ thể về kỉ niệm.

+ Tôi đi học thật sớm, nhìn kĩ lại trang phục, đồ dùng của mình. Cảm giác khó tả khi chuẩn bị không còn là học sinh tiểu học.

+ Trên đường đến trường quen thuộc, nhìn kĩ khung cảnh thấy man mác buồn.

+ Vào lớp học, quan sát bạn bè vui cười, hồn nhiên trêu đùa.

+ Cô giáo chủ nhiệm bước vào lớp, dặn dò cả lớp.

+ Lần cuối cùng, cô điểm danh sĩ số, ai nấy đều rưng rưng, chạy ôm lấy cô.

– Kết bài: Cảm nghĩ của em về kỉ niệm đó.

+ Đó là giây phút tuyệt đẹp nhất trong những năm tháng học lớp 5.

+ Khoảng khắc chấm dứt cấp tiểu học, chuyển sang giai đoạn mới, bước vào lớp 6.

2. Viết bài

Thời gian trôi qua nhanh, ngày nào tôi còn bỡ ngỡ nép sau lưng mẹ, từng bước chậm rãi đi qua cánh cổng trường tiểu học. Vậy mà nay tôi đã đi học lớp 6, làm quen với một môi trường mới hoàn toàn. Một trong những trải nghiệm mà tôi chẳng thể nào quên được đó buổi học cuối cùng tại trường tiểu học.

Hôm ấy tôi đến lớp thật sớm, khoác trên mình bộ đồng phục chỉnh tề nhất.nNhìn phù hiệu trường tiểu học A sao mà thân thương thế! Chỉ còn vài giờ nữa thôi, tôi sẽ không còn là học sinh tiểu học nữa mà trở thành các đàn anh, đàn chị đầy gương mẫu. Nhưng tại sao tâm trạng tôi lại đầy ắp nỗi buồn, sao cổ họng tôi lại cứ nghẹn lại, không biết nói gì.

Trên đường tới lớp, con đường vẫn đông đúc như mọi khi. Hàng cây xanh mướt hai bên đường như đang trùng xuống. Tôi cứ có cảm giác mọi thứ đang trôi chậm lại. Trường tiểu học của tôi tuy không rộng rãi, khang trang thế nhưng chúng tôi lại luôn cảm nhận được cái ấm áp và thân thuộc. Một sáng mùa hè trong veo và yên ả, những tia nắng đang rọi xuống từng vòm cây xanh mượt mà. Cảnh sân trường buổi sáng mai tĩnh lặng đến lạ kì, có lẽ vì do các bạn học sinh chưa đến hết. Hôm nay tôi đến trường sớm hơn mọi ngày vì đây là buổi học đặc biệt.

Tôi vào lớp ngồi ngay ngắn trên bàn học, vì hôm ấy là buổi học cuối cùng nên chúng tôi không cần phải học nhiều, thi cử cũng đã xong nên có lẽ bây giờ là thời điểm nhẹ nhàng nhất. Tôi mang chiếc cặp mà trong đó có vẻn vẹn vài cuốn sách cũ, tôi nhẹ để chúng lên bàn và ngồi ngắm nhìn mọi thứ xung quanh mình. Các bạn trong lớp vẫn hồn nhiên tươi cười, trêu đùa nhau, kể cho nhau nghe những câu chuyện mà mình biết.

Tiếng nô đùa, tiếng cười giòn tan của các bạn trong lớp cuối cùng cũng đã dừng lại khi cô chủ nhiệm bước vào. Hôm ấy cô không quát mắng chúng tôi mà chỉ bước vào và im lặng. Ánh mắt cô giáo hôm nay cũng buồn và nhẹ nhàng biết bao. Cô nhìn một loạt các bạn học sinh, mắt rơm lệ, và nhắn nhủ chúng em phải cố gắng để trở thành học trò ngoan và giỏi ở cấp học mới. Cũng là những lời quen thuộc, cũng là cái giọng nói ấy, vẫn ngữ điệu thân quen ấy nhưng sao hôm nay chúng tôi lại thấy nó thấm thía đến lạ và muốn nghe mãi không thôi.

Cuối cùng cô điểm danh cả lớp lần cuối, cô cầm cuốn sổ điểm danh lên đọc to rõ ràng tên từng bạn học sinh một, khi tên mỗi bạn vang lên cô còn nhắc nhở thêm về điểm mạnh, điểm yếu để chúng tôi khắc phục và hoàn thiện hơn. Khi cô gập lại cuốn sổ cũng là lúc tiếng trống trường vang lên, đó cũng là lúc chúng tôi nhận ra cuộc đời học sinh yêu dấu tại trường tiểu học của chúng tôi đã kết thúc, khi ấy chẳng ai có thể kìm nén được cái mớ cảm xúc hỗn độn của mình và tất cả đều khóc lớn. Cả lớp chúng tôi vỡ òa khóc lớn và chạy lên ôm trầm lấy cô, ngày hôm ấy cả ngôi trường vỡ òa trong tiếng khóc. 

Đó là giây phút tuyệt đẹp nhất trong những năm tháng học lớp 5. Khoảng khắc chấm dứt cấp tiểu học, tôi chuyển sang giai đoạn mới, bước vào lớp 6 – môi trường mới. Tôi dặn lòng sẽ học hành thật tốt để không khỏi tiếc nuối những tháng ngày ở cấp một.

3. Chỉnh sửa bài viết: Đọc và chỉnh sửa lại các lỗi về diễn đạt, chính tả,…. 

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 37 thi Học kì 1

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:

Ai xui ta nhớ Hàm Rồng

Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây.

Từ ta trở lại Sơn Tây

Con đường Nam, Bắc ít ngày vãng lai.

Sơn cầu còn đỏ chưa phai?

Non xanh còn đối sông dài còn sâu?

Còn thuyền đánh cá buông câu?

Còn xe lửa chạy trên cầu như xưa?

Lấy ai viếng cảnh bây giờ

Mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!

Ước sao sông cứ còn sâu

Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh.

(Tản Đà, trích Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng, trong Tuyển tập Tản Đà,

NXB Văn học, Hà Nội, 1986, tr. 231 – 232)

Câu 1. Bài thơ viết về cảnh đẹp nào của đất nước? Hãy chỉ ra những hình ảnh tác giả sử dụng để miêu tả cảnh đẹp đó.

Câu 2. Tình cảm của nhà thơ được thể hiện như thế nào qua hai dòng thơ đầu: Ai xui

ta nhớ Hàm Rồng/ Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây?

Câu 3. Việc tác giả sử dụng các câu hỏi nối tiếp kết hợp với biện pháp tu từ điệp ngữ đã thể hiện điều gì?

Câu 4. Em hiểu như thế nào về ý nghĩa của hai dòng thơ: Ước sao sông cứ còn sâu/ Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh?

Câu 5. Qua đoạn thơ, em cảm nhận được tình cảm gì của tác giả?

Câu 6. Xác định và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ:

Lấy ai viếng cảnh bây giờ

Mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Câu 1. Hãy tập gieo vần cho thơ lục bát bằng cách tìm tiếng phù hợp cho mỗi chỗ trống trong các đoạn thơ sau:

(1) Ngày nay dù ở nơi…

Nhưng khi về đến cây đa đầu làng

Thì bao nhiêu cảnh mơ…,

Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre.

(Theo Bàng Bá Lân, Cổng làng)

(2) Đêm mưa làm nhớ không ….,

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la.

Tai nương nước giọt mái…

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn.

(Theo Huy Cận, Buồn đêm mưa)

Câu 2. Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) ghi lại cảm xúc của em về đoạn thơ sau:

Đồng chiêm phả nắng lên không

Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng

Gió nâng tiếng hát chói chang

Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời.

(Nguyễn Duy, Tiếng hát mùa gặt)

ĐÁP ÁN

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Bài thơ viết về cảnh cầu Hàm Rồng. Những hình ảnh tác giả sử dụng để miêu tả cảnh đẹp đó: màu sơn “đỏ” của cầu, màu “xanh” của núi Ngọc Sơn, độ “sâu” của dòng sông Mã hùng vĩ, cảnh nhộn nhịp “buông câu” của những con thuyền đánh cá, hình bóng xe lửa Bắc – Nam chạy qua chạy lại trên cầu.

Câu 2. Tình cảm của nhà thơ đối với cầu Hàm Rồng được thể hiện rất sâu đậm qua hai dòng thơ: Ai xui ta nhớ Hàm Rồng/ Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây. Tác giả muốn được trông thấy cầu Hàm Rồng cho vơi phần nào nỗi nhớ thường trực trong lòng.

Câu 3. Bốn câu hỏi nối tiếp kết hợp với biện pháp tu từ điệp ngữ: còn đỏ, còn đối, còn sâu, còn thuyền đánh cá, còn xe lửa chạy,… đã gợi tả nỗi day dứt, băn khoăn của tác giả về cảnh sắc Hàm Rồng. Cảnh Hàm Rồng đã in sâu trong tâm hồn nhà thơ với tất cả màu sắc, hoạt động,… Giờ đây, phải xa Hàm Rồng, tác giả băn khoăn không biết Hàm Rồng có còn giữ nguyên được những vẻ đẹp đó hay không.

Câu 4. Hai dòng thơ: Ước sao sông cứ còn sâu/ Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh đã thể hiện nỗi ước mong, khắc khoải của tác giả – mong sao cảnh Hàm Rồng không biến đổi theo dòng chảy thời gian, trong bể dâu cuộc đời. Sông Mã “cứ còn sâu”. Núi Ngọc Sơn “còn cứ giữ màu xanh xanh”,…

Câu 5. Đoạn thơ cho ta thấy tình cảm yêu mến tha thiết của nhà thơ Tản Đà đối với cầu Hàm Rồng nói riêng và đối với quê hương đất nước nói chung.

Câu 6. Trong hai dòng thơ: Lấy ai viếng cảnh bây giờ/ Mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!, nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá. Cầu Hàm Rồng được tác giả nhắc đến như một con người, một người bạn tri âm tri kỷ, một cố nhân. Nhà thơ băn khoăn tự hỏi, trong bao năm tháng xa cách, không biết cảnh Hàm Rồng “có đợi chờ” mình để “cùng nhau” tâm sự, giãi bày.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Câu 1. 

(1) Ngày nay dù ở nơi xa,

Nhưng khi về đến cây đa đầu làng;

Thì bao nhiêu cảnh mơ màng,

Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre.

(Bàng Bá Lân, Cổng làng)

(2) Đêm mưa làm nhớ không gian,

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la.

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn.

(Huy Cận, Buồn đêm mưa)

Câu 2. 

          Đoạn thơ được trích trong bài thơ “Tiếng hát mùa gặt” của nhà thơ Nguyễn Duy. Mở đầu đoạn thơ bức tranh mùa gặt đã hiện lên bao la, rộng lớn. Đoạn thơ sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa: đồng chiêm phả nắng cánh cò dẫn gió, gió nâng tiếng hát, lưỡi hái liếm ngang khiến cảnh vật thêm vui tươi, sinh động. Bên cạnh đó, biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: tiếng hát chói chang kết hợp cùng cách đảo trật tự từ: long lanh lưỡi hái đã mang đến cho người đọc những xúc cảm đặc biệt. Các biện pháp tu từ trên kết hợp với cách sử dụng nhiều hình ảnh đẹp với màu sắc tươi tắn rực rỡ, với cách sử dụng nhiều động từ độc đáo, bức tranh về mùa vàng bội thu được hiện lên rõ nét. Trong bức tranh đó có thiên nhiên rộng lớn, khoáng đạt hiện lên rõ rệt niềm vui, sự lạc quan, hăng say của người lao động trước vụ mùa bội thu. Thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau, tầm vóc con người lao động lớn lao ngang tầm vũ trụ. Đọc đoạn thơ em lại càng thấy thêm yêu quê hương, đất nước tươi đẹp của mình.

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 38 thi Học kì 1 – Kết nối tri thức

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Cổ Chiên – cái tên thật lạ và thật đẹp, đẹp như dòng nước cuồn cuộn phù sa nuôi cây lá hai bên bờ, thật ra là một nhánh sông Tiền Giang, dài 82 cây số. Trên bản đồ nó chỉ là một đường vẽ màu xanh nhỏ bé.

Nhớ những giờ địa lí hồi trung học đệ nhất cấp(1), thầy giáo chia nhóm học sinh để vẽ bản đồ đất nước. Nhóm nào vẽ đúng và đẹp thì được điểm cao. Thầy dạy chúng tôi cách đo tỉ lệ thật chính xác. Chúng tôi lấy giấy khổ lớn, nắn nót vẽ từng nét bút chì màu. Chính nhờ những buổi học ấy mà dòng Cổ Chiên vừa lạ lẫm vừa thân thuộc đã đi vào trí óc non nớt của tôi cùng với những tên sông xa xôi đầy thương mến khác: Nậm Thi, Lục Nam, Kinh Thầy, Rạch Gầm, Vàm Nao, Gành Hào,… Giờ địa lí của thầy  nuôi trong lòng tôi giấc mơ một ngày nào được đi thuyền trên khắp các dòng sông nước mình.

Tôi đến với Cổ Chiên khi cây cầu bắc qua sông đang thành hình. Những chiếc phà tận tuy bao năm đưa người dân qua sông giờ sắp hoàn thành sứ mệnh. Sẽ không còn cảnh chờ đợi qua phà giữa ngày mưa dầm hay trong cơn nắng gắt. Đường tiêu thụ nông sản đồng bằng sẽ thông thoáng và thuận lợi hơn. Gần Tết, hoa quả nơi đây vừa theo đường sông vừa theo đường bộ toả về các ngả. Dòng sông đã chứng kiến bao mùa hoa trái. Dừa, bắp, đậu, dưa hấu, khoai lang, khoai mì, cam, quýt,… từ bên cồn chở về nườm nượp. Trên sông, những ngôi nhà bè nối tiếp nhau, mái tôn sáng lấp loáng dưới ánh nắng.

Những dòng sông, những cây cầu, những chuyến phà,… như thế đã kết nối thực tại với giấc mơ lãng du thời niên thiếu của tôi.

(Theo Huỳnh Như Phương, Thành phố những thước phim quay chậm,

NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 107 – 113)

(1) Trung học đệ nhất cấp: chương trình trung học từ lớp 6 đến lớp 9 (hệ thống giáo dục miền Nam trước năm 1979).

Câu 1. Người kể chuyện đã “gặp” dòng Cổ Chiên theo những cách nào?

Câu 2. Cuộc sống của người dân Nam Bộ gắn bó với dòng Cổ Chiên như thế nào?

Câu 3. Tìm trong đoạn trích những từ ngữ miêu tả sự trù phú của vùng đất phương Nam.

Câu 4. Cảnh sầm uất, nhộn nhịp trên dòng Cổ Chiên và hình ảnh “một đường chỉ màu xanh nhỏ bé” trên bản đồ gợi cho em suy nghĩ gì?

Câu 5. Hãy nêu những nét tương đồng về nội dung của đoạn trích này với đoạn trích trong bài thơ Cửu Long Giang ta ơi (Nguyên Hồng).

Câu 6. Ước mơ thuở học trò thường được chắp cánh từ những bài học trên lớp. Hãy viết (khoảng 5 – 7 câu) về một bài học đã gợi lên trong em những mong ước về tương lai.

Câu 7. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu sau và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ đó:

Những chiếc phà tận tuy bao năm đưa người dân qua sông giờ sắp hoàn thành sứ mệnh.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 10 câu) về một cảnh sinh hoạt của người dân nơi em sống hoặc từng đến.

ĐÁP ÁN

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Từ gặp có thể hiểu là biết đến, nhìn thấy. Người kể chuyện đã “gặp” dòng Cổ Chiên trên bản đồ và trong lần trực tiếp đến thăm.

Câu 2. Cuộc sống của người dân Nam Bộ gắn bó với dòng sông từ giao thông, buôn bán đến cư trú, sản xuất,…

Câu 3. Trong đoạn trích, tác giả miêu tả sản vật phong phú, dồi dào được chuyên chở trên sông, cảnh tấp nập ngược xuôi buôn bán, cảnh các nhà bè san sát,… Tất cả đều biểu hiện sự trù phú của vùng đất phương Nam.

Câu 4. Cảnh sầm uất, nhộn nhịp trên dòng Cổ Chiên và hình ảnh “một đường chỉ màu xanh nhỏ bé” trên bản đồ biểu thị hai cách tiếp cận dòng sông. Trên bản đồ, mỗi dòng sông chỉ được hiển thị bằng những đường chỉ xanh nhỏ bé, nhưng thực tế đó là nơi cho thấy nhịp sống hối hả của con người, mang trong nó những chiều kích lớn lao của văn hoá và lịch sử. Hình ảnh “đường chỉ xanh” gợi nhiều suy tưởng thú vị cho người đọc.

Câu 5. Đoạn trích này có nét tương đồng về nội dung với đoạn trích bài thơ Cửu Long Giang ta ơi (Nguyên Hồng). Cả hai đoạn trích đều nói đến ký ức thuở học trò, hình ảnh thầy giáo, tấm bản đồ đất nước và những nhận thức về quê hương xứ sở khi đã trưởng thành.

Câu 6.

             Em đã được học rất nhiều bài học bổ ích trong nhà trường và sau khi được học bài học về người bác sĩ nhân đức, em đã có ước mơ sau này sẽ trở thành bác sĩ. Chưa bao giờ em thấy công việc cứu người lại trở nên cao đẹp đến như thế khi học xong bài học. Trở thành bất cứ ai chúng ta cũng có thể giúp đỡ được người khác. Nhưng trở thành bác sĩ, việc cứu người lại trở đặc biệt, khó khăn và thiêng liêng hơn khi giữ lại được sự sống cho họ. Muốn trở thành bác sĩ, em nhất định sẽ phải cố gắng học tập, rèn luyện thật chăm chỉ.

Câu 7. Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu là nhân hoá. Tác dụng của nó là làm cho máy móc vô tri như cũng có hồn, biết suy nghĩ và hành động, gắn bó, giúp đỡ con người.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

             Quê của bố em ở miền trung du hiền hòa, cứ mỗi năm nghỉ hè, bố mẹ lại cho em về quê chơi, đây là chuyến đi mà em luôn mong đợi. Quê em đẹp lắm! Những đồi chè bát ngát chạy nối nhau tít tận chân trời, những đồi cọ xòe ô xanh mát trập trùng trong nắng. Em về quê thường vào đúng dịp mọi người đang gặt hái. Trên cánh đồng lúa chín vàng, các bác nông dân tay liềm cắt lúa nhanh thoăn thoắt. Những bó lúa nặng trĩu hạt được mọi người xếp thành từng đống to chờ đem về tuốt. Những chiếc nón trắng nhấp nhô kín cả mặt đồng, tiếng cười vang dội khắp cả triền đê đầy gió, át cả tiếng máy tuốt lúa đang ầm ì làm việc. Những xe lúa đầy ắp nối đuôi nhau đi về làng, ai cũng vui mừng vì vụ mùa bội thu. Em yêu quê hương em lắm, nhất là cảnh mọi người gặt lúa trong ngày mùa. Dù khó khăn, vất vả nhưng ai cũng thêm yêu cuộc sống, có động lực làm việc, tin vào cuộc sống ngày mai tươi đẹp.

……………………………………………

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề 39 thi Học kì 1

Năm học …

Bài thi môn: Ngữ Văn lớp 6

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn thơ sau trong bài thơ Gần lắm Trường Sa của Lê Thị Kim và trả lời các câu hỏi:

Biết rằng xa lắm Trường Sa

Trùng dương ấy tôi chưa ra lần nào

Viết làm sao, viết làm sao

Câu thơ nào phải con tàu ra khơi

Thế mà đã có lòng tôi

Ở nơi cuối bến ở nơi cùng bờ

Phai đâu chùm đảo san hô

Cũng không giống một chùm thơ ngọt lành

Hỡi quần đảo cuối trời xanh

Như trăm hạt thóc vãi thành đảo con

Sóng bào mãi vẫn không mòn

Vẫn còn biển cả vẫn còn Trường Sa

[…] Ở nơi sừng sững niềm tin

Hỡi quần đảo của bốn nghìn năm qua

Tấm lòng theo mũi tàu ra

Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần.

(Lê Thị Kim – Nguyễn Nhật Ánh, Thành phố tháng Tư,

NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1984, tr. 15 – 17)

Câu 1. Hãy chỉ ra những đặc điểm của thơ lục bát được thể hiện qua bốn dòng cuối của đoạn thơ.

Câu 2. Nêu những hình ảnh tác giả sử dụng để miêu tả quần đảo Trường Sa.

Câu 3. Theo em, vì sao nhà thơ khẳng định “Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần”?

Câu 4. Bài thơ đã khơi gợi trong em tình cảm và trách nhiệm gì với đất nước, với biển đảo quê hương?

Câu 5. So sánh nghĩa của từ mũi trong hai trường hợp sau và cho biết đó là từ đồng âm hay từ đa nghĩa:

a. Tấm lòng theo mũi tàu ra

Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần.

b. Bạn Lan có chiếc mũi dọc dừa rất đẹp.

Câu 6. Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì trong hai dòng thơ sau. Nêu tác dụng của việc sử dụng biện pháp tu từ đó.

Hỡi quần đảo cuối trời xanh

Như trăm hạt thóc vãi thành đảo con

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 10 câu) chia sẻ cảm nhận về một bài du ký mà em thích (có thể là bài du kí trong SGK hoặc trong các tuyển tập ký, trên in-tơ-nét,…).

ĐÁP ÁN

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Những đặc điểm của thơ lục bát được thể hiện qua bốn dòng cuối của đoạn thơ:

– Thể thơ: Các dòng thơ được sắp xếp thành từng cặp – một dòng sáu tiếng và một dòng tám tiếng.

– Vần: Tiếng cuối của dòng sáu vần với tiếng thứ sáu của dòng tám (tin – nghìn); tiếng cuối của dòng tám lại vần với tiếng cuối của dòng sáu tiếp theo (qua – ra).

– Thanh điệu: Trong dòng sáu và dòng tám, các tiếng thứ sáu và thứ tám là thanh bằng (tin, nghìn, qua, ra, Sa, gần) còn tiếng thứ tư là thanh trắc (sững, của, mũi, đảo). Trong dòng tám, mặc dù tiếng thứ sáu và tám đều là thanh bằng nhưng nếu tiếng thứ sáu là thanh huyền (nghìn) thì tiếng thứ tám là thanh ngang (qua) và ngược lại, tiếng thứ sáu là thanh ngang (Sa) thì tiếng thứ tám lại là thanh huyền (gần).

– Nhịp: Trong bốn dòng thơ thì có đến ba dòng ngắt theo nhịp chẵn.

Câu 2. Bài thơ viết về quần đảo Trường Sa của Tổ quốc. Những hình ảnh tác giả sử dụng để miêu tả địa danh này: quần đảo cuối trời xanh, trăm hạt thóc vãi thành đảo con, sóng bào mãi vẫn không mòn,…

Câu 3. Nhà thơ khẳng định “Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần” vì về mặt địa lý thì Trường Sa rất xa xôi và nhà thơ cũng chưa trực tiếp ra thăm Trường Sa lần nào nhưng quần đảo này luôn ở trong trái tim nhà thơ với niềm yêu mến, tự hào.

Câu 4. Bài thơ đã khơi gợi trong em tình cảm yêu mến, tự hào đối với vùng đất xa xôi của Tổ quốc, đối với những con người đang ngày đêm canh giữ, bảo vệ Trường Sa. Đọc bài thơ, em cảm thấy mình cần phải có trách nhiệm với Tổ quốc, phải có ý thức gìn giữ và bảo vệ biển đảo quê hương.

Câu 5. Từ i trong mũi tàu chỉ phần trước, nhô ra của tàu thuyền còn mũi trong mũi dọc dừa chỉ một bộ phận nhô ra trên khuôn mặt, dùng để hô hấp của con người. Có thể thấy rõ hai nghĩa này liên quan với nhau nên đây là trường hợp từ đa nghĩa.

Câu 6. Trong hai dòng thơ Hỡi quần đảo cuối trời xanh/ Như trăm hạt thóc vãi thành đảo con, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh, ví quần đảo Trường Sa gồm nhiều đảo nhỏ với hàng trăm hạt thóc. Việc so sánh một đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa như hạt thóc – thứ thân thuộc, gần gũi với mỗi người Việt Nam giúp người đọc cảm thấy quần đảo xa xôi của Tổ quốc trở nên rất gần gũi, thân thương.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Trả lời các câu hỏi sau để xác định nội dung của đoạn văn:

– Em thích bài du kí nào? Tác giả là ai?

– Vì sao em thích bài du kí đó?

– Bài du kí viết về vùng đất nào? Em đã đến nơi đó chưa? Nếu chưa, em có ý định đến đó không?

– Cảnh vật, con người ở đó được miêu tả ra sao?

– Cách miêu tả của tác giả có gì hấp dẫn?

– Em thích nhất chi tiết nào?

– Thông điệp gợi ra từ bài du kí là gì?

TRƯỜNG THCS HAI BÀ TRƯNG

ĐỀ 40 THI HỌC KÌ 1

MÔN: NGỮ VĂN 6

NĂM HỌC: …

(Thời gian làm bài: 90 phút)

ĐỀ BÀI

  1. Trắc nghiệm (3 điểm)

Đọc kĩ các câu sau rồi chọn câu trả lời đúng nhất ghi vào giấy kiểm tra

Câu 1. Trong các truyện sau truyện nào là truyện cổ tích?

  1. Em bé thông minh
  2. Bánh chưng, bánh giầy
  3. Sự tích Hồ Gươm
  4. Con Giồng cháu tiên

Câu 2. Các từ láy nào thường được dùng để tả tiếng cười?

  1. Hả hê
  2. Héo mòn
  3. Khanh khách
  4. Vui cười

Câu 3. Câu nào sau đây có trạng ngữ chỉ nơi chốn?

  1. Lập tức, vua cho gọi cả hai cha con vào ban thưởng rất hậu.
  2. Thu về, khi lá bàng vẫn còn xanh, gốc bàng là nơi tụ họp của chúng.
  3. Giữa sân trường, chúng em chơi nô đùa.
  4. Những cô bé ngày nào nay đã trưởng thành.

Câu 4. Truyền truyền thuyết là ?

  1. Là thể loại truyện dân gian, thường kể về sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc liên quan đến lịch sử.
  2. Là truyện có nhân vật thường là loài vật hoặc đồ vật được nhân cách hóa. Các nhân vật này mang đặc điểm vốn có của loài vật hoặc đồ vật.
  3. Là truyện dân gian kể về sự tích các loài vật, đồ vật..
  4. Vì nó kể lại một câu chuyện với những tình tiết li kì hấp dẫn.

Câu 5. Ý nào dưới đây không thể hiện đặc điểm của nhân vật truyền thuyết?

  1. Nhân vật là những người bình thường, nghèo khổ.
  2. Thường gắn với sự kiện lịch sử và có công lớn đối với cộng đồng.
  3. Là nhân vật bất hạnh.
  4. Là những người thông minh.

Câu 6. Ý nào sau đây không nói về định hướng khi viết bài văn kể lại một truyện truyền thuyết hoặc cổ tích?

  1. Viết y nguyên câu chữ trong truyện.
  2. Thay đổi từ ngữ, cách đặt câu.
  3. Thêm các yếu tố miên tả.
  4. Thêm một vài chi tiết.

Tự luận (7 điểm)

Em hãy kể lại truyện cổ tích Sọ Dừa.

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

  1. Trắc nghiệm: 3 điểm (Mỗi câu đúng 0,5 điểm)
  2. A
  3. C
  4. C
  5. A
  6. B
  7. A
  1. Phần tự luận: (7 điểm)

* Dàn ý:

a) Mở bài:

– Giới thiệu về truyện Sọ Dừa.

b)Thân bài:

* Sự ra đời kì lạ của Sọ Dừa:

– Hai vợ chồng nghèo hiền lành, chăm chỉ nhưng đã ngoài năm mươi mà vẫn chưa có con.

– Một hôm, trời nắng to, người vợ vào rừng lấy củi cho chủ, khát nước quá không tìm thấy suối.

– Bà nhìn thấy cái sọ dừa bên cạnh gốc cây đựng đầy nước mưa, bà bưng lên uống, về nhà thì có mang.

=> Quá trình mang thai kì lạ, không đúng với tự nhiên.

– Chẳng bao lâu sau, bà sinh ra một đứa bé không chân không tay, tròn như một quả dừa nhưng lại biết nói.

=> Hình dáng kì lạ mang ý nghĩa về sự nhỏ bé, khổ cực của những con người thấp bé trong xã hội.

* Sự hiện thân trở lại làm người và cuộc sống của vợ chồng Sọ Dừa:

– Tài năng của Sọ Dừa:

+ Sau khi lớn lên, Sọ Dừa xin mẹ cho đi chăn bò ở nhà phú ông. Cậu chăn bò rất giỏi, con nào con nấy bụng no căng.

+ Sọ Dừa có tài thổi sáo rất hay.

=> Ngoại hình xấu xí nhưng có tài năng.

– Sự gặp gỡ và lòng yêu mến của cô út dành cho Sọ Dừa:

+ Phú ông có ba cô con gái thay phiên nhau đưa cơm cho Sọ Dừa.

+ Hai cô chị ác nghiệt kiêu kỳ, chỉ có cô út là đối đãi tử tế với Sọ Dừa.

+ Cô út đem lòng yêu mến, có của ngon vật lạ đều giấu đem cho chàng.

=> Cô út là một cô gái hiền lành, tốt bụng, cảm mến tài năng và vẻ đẹp bên trong của Sọ Dừa.

– Cuộc sống của hai vợ chồng Sọ Dừa:

+ Cuối mùa ở, Sọ Dừa đòi mẹ đến hỏi con gái phú ông làm vợ.

+ Phú ông đưa ra lễ vật thách cưới rất nặng: một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm.

+ Đến ngày cưới, Sọ Dừa đã chuẩn bị đủ lễ vật cho mẹ mang sang nhà phú ông.

+ Trong ngày cưới, Sọ Dừa trở về hình dáng con người là một chàng trai khôi ngô tuấn tú khiến tất cả mọi người đều kinh ngạc, còn hai cô chị thì vừa ghen vừa tức.

+ Cuộc sống của hai vợ chồng Sọ Dừa rất hạnh phúc, Sọ Dừa học hành chăm chỉ đỗ trạng nguyên và được vua cử đi sứ.

=> Việc thay đổi hình dạng và đỗ trạng nguyên của Sọ Dừa đã thể hiện mơ ước đổi đời của nhân dân lao động.

* Dã tâm của hai cô chị, cuộc đoàn tụ của vợ chồng Sọ Dừa:

– Trong thời gian Sọ Dừa đi sứ, hai cô chị sinh lòng đố kị, bày mưu hãm hại em gái.

– Hai cô chị rủ em chèo thuyền ra biển chơi, rồi đẩy em xuống nước. Cô út bị một con cá kình nuốt chửng vào bụng.

– Sẵn có con dao mà Sọ Dừa đưa cho cô rạch bụng nó, con cá chết xác dạt vào hòn đảo. Nhờ có những đồ vật mà Sọ Dừa đưa cho, cô út sống sót trên đảo hoang.

– Sọ Dừa gặp lại vợ trên đảo hoang, hai vợ chồng đoàn tụ.

– Hai cô chị vì xấu hổ bỏ đi biệt xứ.

=> Kết thúc của câu chuyện đã thể hiện niềm tin của nhân dân ta rằng cái thiện luôn chiến thắng cái ác. Đó là lòng mơ ước về một xã hội công bằng, người tốt cuối cùng cũng gặp lành, người xấu cuối cùng cũng phải trả giá.

  1. Kết bài:

– Nêu ý nghĩa của truyện Sọ Dừa.

* Bài văn mẫu:

Ngày xưa, có hai vợ chồng một lão nông nghèo đi ở cho nhà một phú ông. Họ hiền lành, chăm chỉ nhưng đã ngoài năm mươi tuổi mà chưa có lấy một mụn con.

Một hôm, người vợ vào rừng lấy củi. Trời nắng to, khát nước quá, thấy cái sọ dừa bên gốc cây to đựng đầy nước mưa, bà bèn bưng lên uống. Thế rồi, về nhà, bà có mang.

Ít lâu sau, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa con không có chân tay, mình mẩy cứ tròn lông lốc như một quả dừa. Bà buồn, toan vứt nó đi thì đứa bé lên tiếng bảo.

– Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp. Bà lão thương tình để lại nuôi rồi đặt tên cho cậu là Sọ Dừa.

Lớn lên, Sọ Dừa vẫn thế, cứ lăn lông lốc chẳng làm được việc gì. Bà mẹ lấy làm phiền lòng lắm. Sọ Dừa biết vậy bèn xin mẹ đến chăn bò cho nhà phú ông.

Nghe nói đến Sọ Dừa, phú ông ngần ngại. Nhưng nghĩ: nuôi nó thì ít tốn cơm, công sá lại chẳng đáng là bao, phú ông đồng ý. Chẳng ngờ cậu chăn bò rất giỏi. Ngày ngày, cậu lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà. Cả đàn bò, con nào con nấy cứ no căng. Phú ông lấy làm mừng lắm!

Vào ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho Sọ Dừa. Trong những lần như thế, hai cô chị kiêu kì, ác nghiệt thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô em vốn tính thương người là đối đãi với Sọ Dừa tử tế.

Một hôm đến phiên cô út mang cơm cho Sọ Dừa. Mới đến chân núi, cô bỗng nghe thấy tiếng sáo véo von. Rón rén bước lên cô nhìn thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đang ngồi trên chiếc võng đào thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. Thế nhưng vừa mới đứng lên, tất cả đã biến mất tăm, chỉ thấy Sọ Dừa nằm lăn lóc ở đấy. Nhiều lần như vậy, cô út biết Sọ Dừa không phải người thường, bèn đem lòng yêu quý.

Đến cuối mùa ở thuê, Sọ Dừa về nhà giục mẹ đến hỏi con gái phú ông về làm vợ. Bà lão thấy vậy tỏ ra vô cùng sửng sốt, nhưng thấy con năn nỉ mãi, bà cũng chiều lòng.

Thấy mẹ Sọ Dừa mang cau đến dạm, phú ông cười mỉa mai:

– Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây.

Bà lão đành ra về, nghĩ là phải thôi hẳn việc lấy vợ cho con. Chẳng ngờ, đúng ngày hẹn, bỗng dưng trong nhà có đầy đủ mọi sính lễ, lại có ca gia nhân ở dưới nhà chạy lên khiêng lễ vật sang nhà của phú ông. Phú ông hoa cả mắt lúng túng gọi ba cô con gái ra hỏi ý. Hai cô chị bĩu môi chê bai Sọ Dừa xấu xí rồi ngúng nguẩy đi vào, chỉ có cô út là cúi đầu e lệ tỏ ý bằng lòng.

Trong ngày cưới, Sọ Dừa cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, chẳng ai thấy Sọ Dừa trọc lốc, xấu xí đâu chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đứng bên cô út. Mọi người thấy vậy đều cảm thấy sửng sốt và mừng rỡ, còn hai cô chị thì vừa tiếc lại vừa ghen tức.

Từ ngày ấy, hai vợ chồng Sọ Dừa sống với nhau rất hạnh phúc. Không những thế, Sọ Dừa còn tỏ ra rất thông minh. Chàng ngày đêm miệt mài đèn sách và quả nhiên năm ấy, Sọ Dừa đỗ trạng nguyên. Thế nhưng cũng lại chẳng bao lâu sau, Sọ Dừa được vua sai đi sứ. Trước khi đi, chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà nói là để hộ thân.

Ganh tị với cô em, hai cô chị sinh lòng ghen ghét rắp tâm hại em để thay làm bà trạng. Nhân quan trạng đi vắng, hai chị sang rủ cô út chèo thuyền ra biển rồi cứ thế lừa đẩy cô em xuống nước. Cô út bị cá kình nuốt chửng, nhưng may có con dao mà thoát chết. Cô dạt vào một hòn đảo, lây dao khoét bụng cá chui ra, đánh đá lấy lửa nướng thịt cá ăn. Sống được ít ngày trên đảo, cặp gà cũng kịp nở thành một đôi gà đẹp để làm bạn cùng cô út.

Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, con gà trống nhìn thấy bèn gáy to:

– Ò… ó… o… Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.

Quan cho thuyền vào xem, chẳng ngờ đó chính là vợ mình. Hai vợ chồng gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Đưa vợ về nhà, quan trạng mở tiệc mừng mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai cô chị thấy thế khấp khởi mừng thầm, tranh nhau kể chuyện cô em rủi ro ra chiều thương tiếc lắm. Quan trạng không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Hai cô chị nhìn thấy cô em thì xấu hổ quá, lén bỏ ra về rồi từ đó bỏ đi biệt xứ.

TRƯỜNG THCS ĐỈNH BÀN

ĐỀ 41 THI HỌC KÌ 1

MÔN: NGỮ VĂN 6

NĂM HỌC: ….

(Thời gian làm bài: 90 phút)

Phần 1: Đọc hiểu (3 điểm) 

Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu:

QUÀ CỦA BÀ

Bà tôi bận lắm, cặm cụi công việc suốt ngày. Nhưng chả lần nào đi chợ mà bà không tạt vào thăm hai anh em tôi, cho chúng tôi khi thì tấm bánh đa, quả thị, khi thì củ sắn luộc hoặc mớ táo. Ăn quà của bà rất thích, nhưng ngồi vào lòng bà nghe bà kể chuyện còn thích hơn nhiều.

Gần đây, bà tôi không được khỏe như xưa nữa. Đã hai năm nay, bà bị đau chân. Bà không đi chợ được, cũng không đến chơi với các cháu được. Thế nhưng lần nào chúng tôi đến thăm bà, bà cũng vẫn có quà cho chúng tôi: khi thì mấy củ dong riềng, khi thì cây mía, quả na hoặc mấy khúc sắn dây, toàn những thứ tự tay bà trồng ra. Chiều qua, đi học về, tôi chạy đến thăm bà. Bà ngồi dây, cười cười, rồi tay bà run run, bà mở cái tay nải của bà, đưa cho tôi một gói quà đặc biệt: ô mai sấu!

(Theo Vũ Tú Nam)

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2 (0,5 điểm): Tìm các cụm danh từ trong câu sau: 

Thế nhưng lần nào chúng tôi đến thăm bà, bà cũng vẫn có quà cho chúng tôi: khi thì mấy củ dong riềng, khi thì cây mía, quả na hoặc mấy khúc sắn dây, toàn những thứ tự tay bà trồng ra.

Câu 3 (1 điểm): Qua câu chuyện em thấy tình cảm người bà dành cho cháu như thế nào?  

Câu 4 (1 điểm): Câu chuyện gợi cho em suy nghĩ gì về bổn phận của mình đối với ông bà? 

Phần 2: Tạo lập văn bản (7 điểm) 

Câu 1 (2 điểm): Từ câu chuyện trên em hãy viết đoạn văn ngắn tả lại hình ảnh người bà thân yêu của em.  

Câu 2 (5 điểm): Có một quyển sách bị đánh rơi bên vệ đường. Chuyện gì sẽ xảy ra? Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện?  

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 4

Phần 1: Đọc hiểu (3 điểm) 

Câu 1 (0,5 điểm): Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Tự sự. 

Câu 2 (0,5 điểm): Các cụm danh từ: mấy củ dong riềng, mấy cây mía, mấy khúc sắn dây, …   

Câu 3 (1 điểm): Tình cảm bà dành cho cháu thật ấm áp yêu thương. Bà luôn quan tâm, chăm sóc, dành dụm cho cháu những món quà nhỏ. 

Câu 4 (1 điểm): Bổn phận của mình với ông bà: Yêu thương, chăm sóc ông bà, dành nhiều thời gian, tình cảm cho ông bà. 

Phần 2: Tạo lập văn bản (7 điểm) 

Câu 1 (2 điểm): 

– Đảm bảo hình thức đoạn văn. 

– Xác định đúng vấn đề

– Triển khai các ý như: 

+ Giới thiệu về bà.   

+ Tả khái quát, tả chi tiết. 

+ Cảm nghĩ của em về bà.

TRƯỜNG THCS NGUYỄN HỮU THỌ

ĐỀ 42 THI HỌC KÌ 1

MÔN: NGỮ VĂN 6

NĂM HỌC: …

(Thời gian làm bài: 90 phút)

Phần 1: Đọc hiểu (5 điểm) 

Nhớ lại văn bản “Thánh Gióng” đã học và trả lời các câu hỏi từ 1 – 6 bằng cách lựa chọn đáp án đúng: 

Câu 1 (0,25 điểm): Trong truyện “Thánh Gióng”, Gióng đã yêu cầu nhà vua sắm sửa cho mình những vật dụng gì để đi đánh giặc?

  1. Một áo giáp sắt, một đội quân tinh nhuệ và một chiếc roi sắt.
  2. Một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một áo giáp sắt.
  3. Một con ngựa sắt, một áo giáp sắt cùng một đội quân tinh nhuệ.
  4. Một áo giáp sắt, một đội quân tinh nhuệ, một cái roi sắt.

Câu 2 (0,25 điểm): Ý nghĩa hình tượng Thánh Gióng là gì?

  1. Tượng trưng cho sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân
  2. Biểu tượng về lòng yêu nước, sức mạnh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta. 
  3. Ước mơ cùa nhân dân ta về hình mẫu lí tưởng của người anh hùng chống giặc ngoại xâm thời kì đầu dựng nước.
  4. Tất cả đều đúng

Câu 3 (0,25 điểm): Trong truyện “Thánh Gióng”, cậu bé Gióng cất tiếng nói đầu tiên khi nào?

  1. Khi Gióng được sáu tuổi và đòi đi chăn trâu.
  2. Khi cha mẹ Gióng bị bệnh và qua đời.
  3. Khi nghe sứ giả của nhà vua thông báo công chúa kén phò mã.
  4. Khi nghe sứ giả của nhà vua đi loan truyền tìm người tài giỏi cứu nước, phá giặc Ân.

Câu 4 (0,25 điểm): Trong truyện “Thánh Gióng”, sau khi roi sắt bị gãy, Thánh Gióng đã dùng vật gì để tiếp tục đánh giặc?

  1. Gươm, giáo cướp được của quân giặc.
  2. Dùng tay không.
  3. Nhổ những cụm tre ven đường để quật vào quân giặc.
  4. Cho ngựa phun lửa vào quân giặc.

Câu 5 (0,25 điểm): Để ghi nhớ công ơn của Thánh Gióng, vua Hùng đã phong cho Thánh Gióng danh hiệu gì?

  1. Đức Thánh Tản Viên.
  2. Lưỡng quốc Trạng nguyên.
  3. Bố Cái Đại Vương.
  4. Phù Đổng Thiên Vương.

Câu 6 (0,25 điểm): Phát biểu nào sau đây nói đúng nhất về nhân vật Thánh Gióng trong truyền thuyết “Thánh Gióng”?

  1. Thánh Gióng là nhân vật được xây dựng từ hình ảnh những người anh hùng có thật thời xưa.
  2. Thánh Gióng là nhân vật được xây dựng dựa trên truyền thống tuổi trẻ anh hùng trong lịch sử và từ trí tưởng tượng bắt nguồn từ tinh thần yêu nước của nhân dân.
  3. Thánh Gióng là một cậu bé kì lạ chỉ có trong thời kì đầu dựng nước.
  4. Thánh Gióng là nhân vật do nhân dân tưởng tượng hư cấu nên để thể hiện khát vọng chinh phục thiên nhiên.

Câu 7 (3,5 điểm): Đọc đoạn văn sau: 

Mưa rả rích đêm ngày. Mưa tối tăm mặt mũi. Mưa thối đất thối cát. Trận này chưa qua, trận khác đã tới, ráo riết, hung tợn hơn. Tưởng như biển có bao nhiêu nước, trời hút lên đổ xuống đất liền. (Ma Văn Kháng) 

  1. Đoạn văn trên có những từ láy nào? (1,5 điểm)
  2. Trong đoạn văn trên có những thành ngữ nào? Nghĩa của chúng là gì? (2 điểm)

Phần 2: Tạo lập văn bản (5 điểm) 

Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ và cảm nhận của em về nhân vật Thánh Gióng trong truyện “Thánh Gióng”. 

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ

Phần 1: Đọc hiểu (5 điểm) 

Câu 1 (0,25 điểm): Đáp án B

Câu 2 (0,25 điểm) : Đáp án D

Câu 3 (0,25 điểm): Đáp án D

Câu 4 (0,25 điểm): Đáp án C

Câu 5 (0,25 điểm): Đáp án D

Câu 6 (0,25 điểm): Đáp án B

Câu 7 (3,5 điểm) : Đọc đoạn văn sau: 

Mưa rả rích đêm ngày. Mưa tối tăm mặt mũi. Mưa thối đất thối cát. Trận này chưa qua, trận khác đã tới, ráo riết, hung tợn hơn. Tưởng như biển có bao nhiêu nước, trời hút lên đổ xuống đất liền. (Ma Văn Kháng) 

  1. Đoạn văn trên có những từ láy: rả rích, tối tăm, ráo riết. (1,5 điểm)
  2. Trong đoạn văn trên có những thành ngữ nào? Nghĩa của chúng là gì? (2 điểm)

– Thành ngữ: tối tăm mặt mũi, thối đất thối cát

+ Tối tăm mặt mũi: rất mạnh, rất to, không nhìn rõ vật gì. 

+ Thối đất thối cát: mưa nhiều ngày liên tục, rất to, có sức tàn phá đất đai. 

– Cả 2 thành ngữ đều nói về tác hại của mưa nhiều, to và dữ dội. 

Đề khảo sát chất lượng Học kì 1

Năm học …

Môn: Ngữ văn 6

Thời gian làm bài: 90 phút

Phần đọc hiểu

“Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt. Thuyền cố lấn lên. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. Dượng Hương Thư đang vượt thác khác hẳn dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhẻ, tính nết nhu mì, ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ”

(Ngữ Văn 6 – tập 2)

Câu 1: (1 điểm) Đoạn văn trên được trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?

Câu 2: (1 điểm) Nêu nội dung đoạn trích trên?

Câu 3: (2 điểm) Tìm các câu văn có sử dụng phép tu từ so sánh? Xác định kiểu so sánh trong các câu văn vừa tìm?

Câu 4: (1 điểm) Câu văn sau: “Thuyền cố lấn lên”.

    a) Xác định chủ ngữ, vị ngữ?

    b) Xác định kiểu câu và cho biết câu văn trên dùng để làm gì?

Phần tập làm văn

Đề bài: Hãy tả một nhân vật văn học em đã được đọc trong sách hoặc nghe kể lại (5 điểm)

Đáp án và Thang điểm

Phần đọc hiểu

Câu 1: (1 điểm)

– Đoạn trích được trích trong tác phẩm Vượt thác

– Tác giả: Võ Quảng

Câu 2: Nội dung: Hình ảnh dũng cảm của dượng Hương Thư trong cuộc vượt thác dữ. Qua đó làm nổi bật vẻ đẹp hùng dũng và sức mạnh của người lao động trên nền cảnh thiên nhiên, hùng vĩ.

Câu 3: Các câu văn có sử dụng phép tu từ so sánh: (1 điểm)

– Những động tác thả sào ….. nhanh như cắt. (0,25 điểm)

– Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc (0,25 điểm)

– Cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. (0,25 điểm)

– Dượng Hương Thư đang vượt thác khác hẳn dượng Hương Thư ở nhà. (0,25 điểm)

Kiểu so sánh: (1 điểm)

* So sánh ngang bằng: (0,5 điểm)

– Những động tác thả sào ….. nhanh như cắt.

– Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc

– Cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ.

* So sánh không ngang bằng (0,5 điểm)

Dượng Hương Thư đang vượt thác khác hẳn dượng Hương Thư ở nhà.

Câu 4: (1 điểm)

Thuyền // cố lấn lên.

CN               VN

→ Câu trần thuật đơn

Phần tập làm văn

– Xác định đúng đối tượng miêu tả, biết cách triển khai một bài viết hoàn chỉnh có đầy đủ 3 phần mở bài, thân bài, kết bài (0,5 điểm)

MB: giới thiệu được nhân vật văn học trong tác phẩm (4 điểm)

TB: Tả bao quát về nhân vật

    + Nhân vật xuất hiện trong hoàn cảnh nào

    + Lý do đây là nhân vật em thích

    + Vị trí nhân vật trong tác phẩm (nhân vật chính/phụ, phản diện/ chính diện…)

– Tả cụ thể, chi tiết về nhân vật

    + Tả ngoại hình của nhân vật trong tác phẩm

    + Tả tính cách của nhân vật

    + Tả hoạt động của nhân vật

KB: Nêu cảm nghĩ của em về nhân vật trong truyện

hòng Giáo dục và Đào tạo …..

Đề 44 khảo sát chất lượng Học kì 1

Năm học …

Môn: Ngữ văn 6

Thời gian làm bài: 90 phút

Phần đọc hiểu

Cho đoạn trích sau:

“Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Ðôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ gãy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. Ðôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã. Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc. Sợi râu tôi dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng. Tôi lấy làm hãnh diện với bà con vì cặp râu ấy lắm. Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.”

(Ngữ văn 6 tập 2)

    1. Đoạn trích trên thuộc tác phẩm nào em đã học? Tác giả là ai?

    2. Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích trên? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.

    3. Trình bày ngắn gọn nội dung, nghệ thuật của đoạn trích trên

Phần tập làm văn

Hãy viết bài văn tả khu phố/ làng quê nơi em đang sống.

Đáp án và Thang điểm

Phần đọc hiểu

Câu 1: (1 điểm)

– Đoạn trích: Bài học đường đời đầu tiên

– Tác giả: Tô Hoài

Câu 2: (1,5 điểm)

Tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa (nhân vật xưng “tôi”) nhằm làm cho Dế Mèn trở thành một con người sống động, gần gũi. (1,5 điểm)

– Sử dụng biện pháp nhân hóa:

Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc.

⇒ Gợi liên tưởng, tăng sức gợi hình, gợi cảm.

Câu 3: (1,5 điểm)

Nội dung: Miêu tả vẻ đẹp cường tráng, khỏe mạnh của Dế Mèn tuổi đang lớn (1,5 điểm)

– Nghệ thuật:

    + Ngôn ngữ miêu tả và tự sự độc đáo, đa dạng

    + Sử dụng biện pháp tu từ: nhân vật sinh động hơn

Phần tập làm văn

– Trình bày khoa học, rõ ràng, đầy đủ các phần MB, TB, KB (0,5 điểm)

MB: Giới thiệu về khu phố nơi em sinh sống ( vị trí địa lý, đặc điểm, giao thông…) (4 điểm)

TB: Tả bao quát

    + Diện tích

    + Không khí, thời tiết…

Tả chi tiết

– Cảnh vật ở khu phố:

    + Nhà cửa, đường phố, cây cối

    + Cảnh ở khu phố sạch, đẹp, khoáng đạt

– Tả con người ở khu phố

    + Hoạt động của con người ở khu dân cư

    + Công việc của mọi người mỗi ngày

    + Điểm thêm hoạt động của gia đình em/ bản thân em

– Cảm nhận về khu phố

KB: Nêu tình cảm đối với khu phố nơi em sinh sống.

Phòng Giáo dục và Đào tạo …..

Đề 45 khảo sát chất lượng Học kì 1

Năm học …

Môn: Ngữ văn 6

Thời gian làm bài: 90 phút

“Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ: vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Người ta gọi chàng là Sơn Tinh. Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về. Người ta gọi chàng là Thủy Tinh. Một người là chúa vùng non cao, một người là chúa vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng. Vua Hùng băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai, bèn cho mời các Lạc hầu vào bàn bạc. Xong vua phán:

– Hai chàng đều vừa ý ta, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Thôi thì ngày mai, ai đem sính lễ đến trước, ta sẽ cho cưới con gái ta.”

    1. Đoạn văn trên nằm trong tác phẩm nào? Thuộc thể loại gì? Hãy trình bày khái niệm về thể loại đó (2 điểm)

    2. Tìm sự thật lịch sử có trong đoạn trích trên (1 điểm)

    3. Giải thích nghĩa từ “băn khoăn”? Em vừa giải thích nghĩa cua từ bằng cách nào (1 điểm)

    4. Chỉ nêu câu chủ đề trong đoạn văn trên (1 điểm)

    5. Bằng đoạn văn khoảng 1/ 2 trang giấy, hãy kể sáng tạo sự việc trong đoạn trích trên

Đáp án và Thang điểm

Câu 1: (2 điểm)

Tác phẩm “Sơn Tinh, Thủy Tinh”

Thể loại: truyền thuyết

Khái niệm: Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật, sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường mang yếu tố hoang đường kì ảo. Thể hiện thái độ, cách đánh giá của nhân dân đối với nhân vật, sự kiện lịch sử được kể

Câu 2: (1 điểm)

Sự thật lịch sử: thời đại vua Hùng, nhà vua kén rể. Về sau có đền thờ Sơn Tinh trên núi Tản Viên

Câu 3: (1 điểm)

Băn khoăn: vẫn còn thấp thỏm lo âu, khi có điều đang được cân nhắc, suy nghĩ

– Giải thích bằng cách nêu khái niệm

Câu 4: (1 điểm)

Câu chủ đề “Một hôm có hai càng trai đến cầu hôn”

Câu 5: (5 điểm)

MB

Giới thiệu nhân vật, sự việc

TB: Nhập vai nhân vật (vua Hùng Vương, Thủy Tinh, Lạc hầu) kể lại đoạn truyện.

Chú ý cách xưng hô “ta/ tôi”

KB

Nêu kết truyện và ý nghĩa của câu chuyện về mặt lịch sử, cuộc sống.

Phòng Giáo dục và Đào tạo …..

Đề 46 khảo sát chất lượng Học kì 1

Năm học …

Môn: Ngữ văn 6

Thời gian làm bài: 90 phút

Phần trắc nghiệm

Câu 1: Truyện nào sau đây là truyện cổ tích?

A. Sơn Tinh, Thuỷ Tinh    B. Sọ Dừa

C. Thánh Gióng    D. Treo Biển

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của truyện “Con Rồng Cháu Tiên” là gì?

A. Miêu tả    B. Biểu cảm

C. Tự sự    D. Nghị luận

Câu 3: Mục đích giao tiếp của văn bản tự sự là gì?

A. Tái hiện trạng thái sự vật

B. Bày tỏ tình cảm, cảm xúc

C. Nêu ý kiến đánh giá bàn luận

D. Trình bày diễn biến, sự việc

Câu 4: Yếu tố nào không thể thiếu trong văn bản tự sự?

A. Nhân vật, sự việc

B. Cảm xúc, suy nghĩ

C. Hành động, lời nói

D. Nhận xét

Câu 5: Truyền thuyết nào sau đây liên quan đến nguồn gốc ra đời của người Việt?

A. Bánh chưng, bánh giầy

B. Con Rồng, cháu Tiên

C. Thành Gióng

D. Sơn Tinh, Thuỷ Tinh

Câu 6: Ý nghĩa của truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh là gì?

A. Đề cao ý thức và sức mạnh bảo vệ đất nước

B. Đề cao lao động, đề cao nghề nông

C. Thể hiện ước mơ chế ngự thiên tai

D. Thể hiện quan niệm và ước mơ của nhân dân về cuộc sống.

Câu 7: Ý nghĩa của truyện Ếch ngồi đáy giếng là gì?

A. Chế giễu, châm biếm thói nghênh ngang

B. Phê phán cách nhìn nhận phiến diện, chủ quan

C. Phê phán những người hiểu biết hạn hẹp, không coi ai ra gì

D. Phê phán những người không có chủ kiến, ba phải

Câu 8: Truyện cổ tích được sáng tác nhằm mục đích gì?

A. Phê phán những thói hư tật xấu của con người

B. Khuyên nhủ, răn dạy con người

C. Thể hiện thái độ, cách đánh giá của nhân dân với nhân vật, sự kiện được kể

D. Thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về đạo đức và công lý

Câu 9: Dòng nào dưới đây nêu chính xác nhất về đặc điểm cốt truyện của truyện ngụ ngôn?

A. Ngắn gọn, gay cấn, hấp dẫn

B. Ngắn gọn, triết lý sâu xa

C. Đơn giản, dễ hiểu, gây hứng thú

D. Ngắn gọn, chứa mâu thuẫn gây cười, tình huống bất ngờ

Câu 10: Về nghệ thuật, truyện cười giống truyện ngụ ngôn ở điểm nào?

A. Sử dụng tiếng cười

B. Tình tiết ly kỳ

C. Nhân vật chính thường là vật

D. Cốt truyện ngắn gọn, hàm súc

Câu 11: Trong các cụm từ và câu sau, từ “bụng” nào được dùng với nghĩa gốc?

A. Miệng nam mô, bụng bồ dao găm.

B. Sống để bụng, chết mang theo

C. Anh ấy tốt bụng

D. Chạy nhiều, bụng chân rất săn chắc.

Câu 12: Từ nào dưới đây là từ ghép?

A. Lung linh    B. Tươi tốt

C. Hân hoan    D. Mênh mông

Câu 13: Dòng nào dưới đây là cụm danh từ?

A. Đang nổi sóng mù mịt

B. Một toà lâu đài to lớn

C. Không muốn làm nữ hoàng

D. Lại nổi cơn thịnh nộ

Câu 14: Dòng nào dưới đây là cụm tính từ?

A. Cái máng lợn sứt mẻ

B. Một cơn giông tố

C. Đi học là một hạnh phúc của trẻ em

D. Lớn nhanh như thổi

Câu 15: Câu nào sau đây mắc lỗi dùng từ không đúng nghĩa?

A. Anh ta là một kẻ tính khí nhỏ nhen.

B. Chị ấy có thân hình nhỏ nhắn.

C. Một cuốn sách nhỏ nhen.

D. Cô ấy nói năng nhỏ nhẹ.

Câu 16: Nghĩa của từ “tung hoành” được giải thích dưới đây theo cách nào? “Tung hoành”: Thoả chí hành động không gì cản trở được

A. Trình bày khái niệm mà từ biểu thị

B. Miêu tả hành động, sự vật mà từ biểu thị

C. Đưa ra từ đồng nghĩa với từ cần giải thích

D. Đưa ra từ trái nghĩa với từ cần giải thích

Phần tự luận

Viết bài văn dài khoảng 350 đến 400 chữ.

Đề bài: Miêu tả con đường đến trường thân thuộc của em.

Đáp án và Thang điểm

Phần trắc nghiệm

1 2 3 4 5 6 7 8
B C D A B C C D
9 10 11 12 13 14 15 16
B D D B B D C A

Phần tự luận

– Đảm bảo đúng cấu trúc đoạn văn, có câu mở đầu đoạn, câu thân đoạn triển khai được vấn đề, câu kết chốt vấn đề. (0,25 điểm)

– Xác định đúng đối tượng đoạn văn (0,25 điểm)

– MB: Giới thiệu được con đường đến trường (1 điểm)

– TB: Tả khái quát hình ảnh con đường đến trường quen thuộc (2 điểm)

– Miêu tả con đường theo cảm nhận chung (rộng hay hẹp; đường nhựa hay trả đá, lát gạch…

– Cảnh vật hai bên đường:

    + Những dãy nhà, công viên

    + Những rặng cây, những lùm tre, những đám cỏ, bờ mương

    + Những dải đường phân cách, ngã tư đèn xanh đèn đỏ

– Hoạt động của con người trên đường

+ Cảnh học sinh tới trường

    + Cảnh những người lao động đi làm sớm

    + Những hàng quán ven đường mở cửa

– Hoạt động và cảm xúc của bản thân khi trên đường (1 điểm)

    + Được bố mẹ đưa tới trường

    + Đi học cùng chúng bạn

    + Kể những kỉ niệm gắn với con đường đến trường

KB: Tình cảm của em với con đường. Có thể mở rộng tới con đường tương lai của bản thân

Điểm trình bày sạch đẹp, khoa học, rõ ràng (0,5 điểm)

15 Đề thi Ngữ văn lớp 6 Học kì 1 Kết nối tri thức tải nhiều nhất

20 Đề thi Học kì 1 Ngữ văn lớp 6 Kết nối tri thức có ma trận

15 Đề thi Ngữ văn lớp 6 Học kì 1 Cánh diều tải nhiều nhất

20 Đề thi Học kì 1 Ngữ văn lớp 6 Cánh diều có ma trận

15 Đề thi Ngữ văn lớp 6 Học kì 1 Chân trời sáng tạo tải nhiều nhất

20 Đề thi Học kì 1 Ngữ văn lớp 6 Chân trời sáng tạo có ma trận

Mọi chi tiết liên hệ với chúng tôi :
TRUNG TÂM GIA SƯ TÂM TÀI ĐỨC
Các số điện thoại tư vấn cho Phụ Huynh :
Điện Thoại : 091 62 65 673 hoặc 01634 136 810
Các số điện thoại tư vấn cho Gia sư :
Điện thoại : 0902 968 024 hoặc 0908 290 601

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*